Chủ đề: Tiếng Việt Bảng đề mục

Tập làm thơ

Quy tắc làm thơ

Những điều cơ bản

1. Tiếng bằng

Tiếng bằng là những tiếng KHÔNG DẤU, và những tiếng có DẤU HUYỀN, thí dụ như hai chữ "thơ" và "tình", cả hai chữ này đều là tiếng bằng!

Tiếng bằng là những tiếng có giọng ÊM dịu, có thể đọc kéo dài ra được.

Tiếng bằng có HAI LOẠI: THƯỢNG BÌNH THANH, và HẠ BÌNH THANH. Nói bằng cách khác, thượng bình thanh là tiếng bổng, hạ bình thanh là những tiếng CHÌM hay trầm.

Nhất Lang dùng hai chữ thí dụ trên để nói tiếp: "Thơ" là tiếng KHÔNG CÓ DẤU, ta gọi là tiếng bổng! "Tình" là tiếng CÓ DẤU HUYỀN, ta gọi là tiếng CHÌM hay trầm!

Tiếng bổng và tiếng trầm chan hòa với nhau tạo ra âm điệu du dương, làm bài thơ hay hơn. Nếu ta chỉ dùng 1 loại tiếng trong một câu thơ thì âm điệu sẽ rất ngang và trúc trắc.

2. Tiếng trắc

Bên cạnh những tiếng bằng, chúng ta còn cần phải làm quen với những tiếng trắc. Tiếng trắc là những tiếng có giọng đọc ngắn, không kéo dài ra như tiếng bằng.

Những tiếng có chữ C, CH, P, T đứng ở cuối tiếng và những tiếng có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều là những tiếng trắc.

Cũng như tiếng bằng, trắc có tiếng trầmbổng - tiếng trầm của tiếng trắc là những tiếng có dấu HỎI và NẶNG, tiếng bổng của tiếng trắc là những tiếng có dấu SẮC và NGÃ.

Hai chữ "lãng" và "mạn" đều là tiếng trắc, "lãng" là tiếng bổng, "mạn" là tiếng trầm hay chìm.

3. Kết hợp bằng, trắc

Mỗi câu thơ đều nên có tiếng bằng và tiếng trắc, và vì hai loại tiếng khác nhau, nên ta phải xếp sao cho tiếng nọ chế tiếng kia, thì khi đọc sẽ tìm thấy một âm điệu du dương. Nói tóm lại, mỗi câu thơ nên được xếp sao cho mỗi loại tiếng chan hòa với nhau, có nghĩa là cố giữ sao cho câu thơ 8 chữ phải có ít nhất 3 tiếng bằng, 5 tiếng trắc hoặc ngược lại... nếu được 4 tiếng này, 4 tiếng kia thì càng tốt; câu thơ 8 chữ mà chỉ có 1 tiếng bằng và 7 tiếng trắc, thì câu thơ ấy thiệt là chướng tai ghê lắm.

Cho dù câu thơ có mấy chữ đi nữa, bằngtrắc nên được cân đối với nhau, tuy nhiên không đòi hỏi phải bằng số!

Văn thơ khác hơn âm nhạc ở chỗ chữ bằng không thể nào hợp VẬN cùng chữ trắc. Nghĩa là chữ TÌNH có thể vần cùng chữ MÌNH, nhưng không thể vần cùng chữ TÍNH.

Luật định: bằng vần với bằng, trắc vần với trắc.

4. Kết hợp trầm, bổng

Tiếng bổng và trầm được xếp ra sao thì là do biệt tài của mỗi người, ta không có luật định rõ. Tuy nhiên, trầmbổng được xem là nhất định ở chữ thứ 6 và thứ 8 trong câu BÁT của thơ lục bát. Nếu tiếng bổng được dùng ở vị trí chữ thứ 6 thì tiếng trầm nhất định phải được dùng ở vị trí chữ thứ 8. Và ngược lại, nếu chữ thứ 6 đã là tiếng trầm, thì chữ thứ 8 nhất định phải là tiếng bổng. Nếu 1 loại tiếng được dùng ở cả hai vị trí nói trên, thì câu thơ ấy sẽ bị mất đi âm điệu của thơ.

Các bạn đọc thử hai câu thơ này:

Đêm nay trăng tỏ sao mờ,

Đò ngang vĩ tuyến còn chờ em về.

Các bạn đọc lại hai câu này:

Đêm nay trăng tỏ sao mờ,

Đò ngang vĩ tuyến còn chờ em tôi.

Hai câu trên đọc nghe chướng tai lắm, vì cả hai tiếng trầm đều được dùng ở vị trí thứ 6 và 8 trong câu bát (câu có 8 chữ). Hai câu dưới đọc nghe êm tai, vì hai loại tiếng khác nhau (trầm và bổng) đã được dùng vào vị trí chữ thứ 6 và 8 trong câu bát.

5. Vần

VẦN - nghĩa là những tiếng có cùng một âm hưởng; hai tiếng có cùng giọng phát âm thì VẦN với nhau được... hai tiếng không VẦN với nhau thành ra LẠC VẬN, trái luật thơ!

Tuy hồn thơ, lời và ý đều quan trọng, nhưng nếu bài thơ không có VẦN thì không gọi là thơ. Cho dù là thơ MỚI (không chú trọng đến luật) cũng cần phải có VẦN thì bài thơ mới hay.

Tiếng bằng vần với tiếng bằng, tiếng trắc vần với tiếng trắc... không điều ngoại lệ!
5.1. Vần chính của vần bằng

A vần với A hoặc À, E vần với E hoặc È, AN vần với AN hoặc ÀN, INH vần với INH hoặc ÌNH.

Một thí dụ cho vần chính của vần bằng:

Pháo nổ dồn, pháo nổ dồn,

Pháo đang xâu xé tâm hồn lẻ loi.

Trong hai câu LỤC BÁT trên Nhất Lang đã dùng vần chính của âm ÔN.

Mắt em hãy nghiền nhắm,

Anh tặng một nụ hôn,

Cho em ấm cả hồn,

Mộng liêu trai chìm đắm.

Bốn câu trên được viết theo thể loại thơ mới (5 chữ), hai chữ cuối của câu 2 và 3 phải vần nhau, và Nhất Lang cũng đã dùng vần chính của âm ÔN. NHẮM và ĐẮM chỉ là trùng hợp, hai chữ này không cần phải VẦN nhau.

5.2. Vần chính của vần trắc

Á với Á, Ả, Ã, hoặc Ạ vần với nhau. É với É, Ẻ, Ẽ, hoặc Ẹ vần với nhau. Một thí dụ cho vần chính của vần trắc:

Cứ mỗi độ chiều về bên suối,

Anh trộm nhìn đắm đuối dáng hoa.

Vần chính của vần trắc đã được dùng trong hai câu SONG THẤT trên.

5.3. Vần thông của vần bằng

Vần thông là những tiếng không có cùng một ÂM như các vần CHÍNH, nhưng có cùng một giọng PHÁT ÂM, có thể ăn vận với nhau được.

Nếu không am hiểu vần THÔNG chúng ta rất dễ bị LẠC VẬN khi làm thơ. Vì thế khi muốn dùng vần thông, chúng ta cần phải hiểu rõ luật vần thông.

Theo kinh nghiệm và cách nhìn của Nhất Lang thì người miền Nam thường hay bị lầm lẫn về vần THÔNG hơn (Nhất Lang chỉ nói là thường - riêng Nhất Lang cũng là người miền Nam)

VẦN THÔNG là những tiếng có sự vận động của môi và lưỡi rất giống nhau khi ta phát âm.

Nhất Lang cố gắng đem vào đây hầu hết những VẦN THÔNG mà chúng ta thường gặp...

Các bạn và các em cố gắng chú ý: CẦN NHẤT LÀ NÊN THUỘC LÒNG những vần THÔNG này, nếu không thì nên dùng chỉ vần chính mà thôi!

VẦN THÔNG của vần bằng:

A và Ơ thông với nhau. Ơ và Ư thông với nhau. Nhưng A và Ư KHÔNG thông với nhau được!

E, Ê và I thông với nhau. O, Ô và U thông với nhau

Khi Nhất Lang bảo là THÔNG thì có nghĩa là những ÂM ấy VẦN với nhau được!

AI thông với AY. AI thông với tất cả các ÂM sau đây: OI, ÔI, ƠI, ƯƠI, UI, Nhưng, AY, tuy thông với AI nhưng không thông với các ÂM trên! Tất cả những ÂM trên THÔNG với nhau.

AO thông với AU. AU thông với ÂU, Nhưng AO không thông với ÂU.

AO thông với tất cả các âm sau: EO, ÊU, IÊU, IU, ƯU Nhưng AU và ÂU không thể thông.

AM thông với ƠM. ĂM thông với ÂM. ÊM thông với IM và EM. AN thông với ƠN. ĂN thông với ÂN và UÂN

EN, IN, IÊN, và UYÊN thông nhau.

ON, ÔN và UÔN hoặc UN thông nhau.

ANG và ƯƠNG thông nhau.

ƯƠNG và UÔNG thông nhau, Nhưng ANG không thông với UÔNG.

ĂNG, ÂNG, và ƯNG thông nhau

ONG, ÔNG, và UNG thông nhau

ANH, ÊNH và INH thông nhau

ĂN và ĂNG, ÂN và ÂNG, hay UN và UNG vv... không thông nhau.

Những chữ có "G" theo sau nhất định chỉ thông với những chữ có G theo sau! Đây là điểm mà Nhất Lang nhìn thấy người có giọng phát âm của miền Nam hay bị lầm vì sơ ý hay theo thói quen. (Nhất Lang lắm khi cũng không ngoại lệ)

5.4. Vần thông của vần trắc

Vần thông của vần trắc cũng dựa theo nguyên tắc như những vần thông của vần bằng.

Vần thông có nguyên âm đứng cuối:

É, Í, Ẻ, Ỉ, Ẽ, Ĩ, Ẹ, Ị thông với nhau

Cũng như vần bằng tất cả những âm I có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều có thể thông với những âm Y có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG,

... nhưng Y không thông được với E

Ổ, Ũ, Ó, hay Ộ, Ú, Ọ thông nhau

Ọ và ỦA thông nhau (tất cả các âm O và UA có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều thông)

ĨA và UỆ thông nhau

ÁO, IỄU, ẢO, YẾU, ÉO, ỈU, ỮU và tất cả các đồng âm có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều vần được.

ÓI, ẢI, Ội, ỠI, ƯỢI, ÚI và các đồng âm có các dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều vần nhau được.

ẤC và ỰC thông nhau

ẠM, ỢM, ÁM, ỞM thông nhau

ẶN và ẨN hay UẨN thông nhau

ÓNG và ÚNG

ẬT và ẮT

ẬT và ỨT

ÚT và UỐT vv...

Tóm lại: vần thông của vần trắc không khác chi vần thông của vần bằng về ÂM, tuy nhiên ta cần hiểu rõ khác biệt giữa trắcbằng.

6. Gieo vần

Sau đây là các điều đáng nhớ trong sự GIEO VẦN:

1-- A, Ă, Â rất thường được GHÉP với một phụ âm khác như C, M, N, P, T để tạo thành âm GHÉP như: AC, ĂC, ÂC... AM, ĂM, ÂM... AN, ĂN, ÂN... AP, ĂP, ÂP... AT, ẮT, ẤT vv... Những vần GHÉP nói trên CHỈ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trước!

Thí dụ: BÁT thông được với BẮT hay BẤT, mà KHÔNG thông được với CẮT hay CẤT hoặc MẮT hay MẤT... tuy nhiên BÁT thông được CÁT hay MÁT vì chúng đều có âm GHÉP "AT" theo sau.

TAM thông với TĂM hay TÂM, mà KHÔNG thông với CĂM hay CÂM, cũng không thông được với TRĂM hay TRÂM... tuy nhiên TAM thông được với CAM, TRAM, vì chúng có cùng âm GHÉP "AM" theo sau.

TAN thông với TĂN hay TÂN, mà không thông với VĂN hay VÂN vv...

2-- Khi có vần GHÉP bằng 2 hoặc 3 chữ nguyên âm với một phụ âm đứng cuối: IÊN, UYÊN, UÂN, UÔN, ta nên lấy 2 chữ cuối cùng làm VẬN CĂN, Có nghĩa là dựa theo hai chữ cuối cùng mà gieo vần...

Thí dụ: EN, IN, vần với YÊN hay UYÊN

ÂN vần với UÂN

ƠN vần với OAN

ON vần với UÔN

VẦN GHÉP bằng 2 HAY 3 NGUYÊN ÂM VỚI 2 PHỤ ÂM:

Thí dụ như chữ ƯƠNG... thì ta nên lấy 3 chữ cuối mà làm VẬN CĂN để GIEO VẦN.

CHO NÊN: ƯƠNG vần với ANG,

CŨNG NÊN nhớ: ƯƠNG vần với UÔNG, nhưng UÔNG không vần với ANG vì Ô không vần với A.

3-- VẦN GHÉP bằng 2 hay 3 NGUYÊN ÂM:

Khi có loại âm này thì ta nên theo âm điệu mà lấy 1 hay 2 chữ mà làm VẬN CĂN.

Thí dụ: OA, OE, UÊ, UY... thì vận căn là A, E, Ê, Y; nên OA vần với A, OE vần với E, UÊ vần với Ê, UY vần với I hay Y.

UÂY vần với ÂY

THÍ DỤ: IA, UYA, UA, ƯA... vận căn là I, Y, U, Ư, mà chữ A đứng cuối không ảnh hưởng chi cả.

I vần với IA

Ư vần với ƯA

Ô vần với UA vv...

4-- Hai tiếng ĐỒNG ÂM và ĐỒNG NGHĨA thì không vần được!!!

Hai tiếng ĐỒNG ÂM mà KHÁC NGHĨA thì vần được!!!

Các bạn và các em đọc lại tất cả các bài đã "POSTED" để làm quen và có gì thắc mắc, cứ hỏi... Nhất Lang sẽ cố gắng trả lời theo khả năng của mình.

Sau khi mọi người thông qua từ bằng & trắc, bổng & trầm, VẦN CHÍNH & THÔNG thì mình sẽ bắt đầu nói đến THƠ LỤC BÁT!

Những bước trên là những điều căn bản mà các anh chị, các bạn, và các em cần phải hiểu khi bắt đầu tập làm thơ.

Nhất Lang mong rằng những điều ghi trên giúp ích được cho các anh chị, các bạn, và em muốn làm quen cùng nguyên tắc làm thơ. Bài kế tiếp Nhất Lang sẽ bắt đầu nói đến những loại thơ.

Chúc tất cả vui vẻ và thành công!

Thơ lục bát

Lục Bát là 1 trong 2 thể loại thơ chính tông của Việt Nam. Thơ Lục Bát khác hơn Ngũ Ngôn hoặc Thất Ngôn của Hán văn ở chỗ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn chỉ có CƯỚC VẬN (vần ở cuối câu), còn Lục Bát có cả CƯỚC VẬN & YÊU VẬN (CƯỚC VẬN là vần ở cuối câu, còn YÊU VẬN là vần ở giữa câu, nghĩa là vần của chữ thứ 6 của câu Bát). Vần Cước còn gọi là vần CHÂN, chân thì ở cuối, và Vần Yêu còn gọi là vần LƯNG, lưng thì ở giữa.

Lục Bát là thể loại thơ cứ 1 câu 6 chữ rồi đến 1 câu 8 chữ, cứ như thế mãi...

Vì có YÊU VẬN cho nên cứ 3 câu lại đổi vần 1 lần, bắt đầu từ câu Bát (câu thứ nhì của bài). Vì có thể đổi vần, loại thơ này mỗi bài có thể viết đến hàng ngàn câu. Những bài Lục Bát dài ta gọi là Lục Bát Trường Thiên hay Lục Bát Tràng Thiên.

Thông thường, trong thơ LỤC BÁT, chúng ta chỉ dùng mỗi vần bằng... tuy nhiên, vẫn có trường hợp người ta dùng vần trắc.

Nhất Lang xin phép dùng bài Lục Bát nắn của nhà thơ TÚ XƯƠNG để làm mẫu:

NHỚ BẠN


Ai về còn nhớ ai KHÔNG?

Trời mưa một mảnh áo BÔNG che ĐẦU.

Nào ai có tiếc ai ĐÂU,

Áo bông ai ướt, khăn ĐẦU ai KHÔ?

Người đi Tam Đảo Ngũ HỒ,

Kẻ về khóc trúc, than NGÔ một MÌNH.

Non non, nước nước, tình TÌNH,

Vì ai ngơ ngẩn, cho MÌNH ngẩn ngơ.

Chú ý những chữ in to.

Câu LỤC đầu gieo vần ở chữ KHÔNG, chữ thứ 6 của câu Bát "BÔNG" theo vần chữ KHÔNG, cuối câu BÁT này lại đổi sang vần mới là ĐẦU... cứ như thế, cứ 3 vần lại đổi 1 vần khác. Nhớ kỷ, chúng ta nhất định phải đổi vần, nếu cứ dùng vần cũ tiếp theo kế hoặc vài câu kế đó thì âm điệu của bài thơ sẽ bị nhàm chán.

Trong bài trên, tác giả đã dùng TRÙNG TỪ hai lần; theo luật thì không đúng, nhưng trong trường hợp này tác giả đã cố ý dùng như thế để khơi lại chủ ý của mình; nếu các bạn đọc kỷ và chia bài thơ ra làm hai đoạn 4 câu, thì sẽ nhìn ra cách hành thơ rất là đặc biệt!

TRÁNH DÙNG ĐỘC VẬN TRONG THƠ LỤC BÁT:

Theo luật của thơ Lục Bát, cứ mỗi 3 câu ta phải gieo vần mới; nếu cứ dùng 1 vần bài thơ sẽ trở nên nhàm chán.

Thí dụ như đoạn thơ này:

Casino! CASINO!

Lắng nghe giới trẻ trầm TRỒ ngợi KHEN.

Ngày đêm lắm kẻ bon CHEN,

Ôi thôi đủ cả sang HÈN ăn QUEN.

Bài cào, xì dách, đỏ ĐEN,

Bảy lửa, bảy trắng, chớp ĐÈN reo VANG.

Từ chữ KHEN cho đến chữ ĐÈN, tác giả đã dùng liên tục 6 chữ cùng 1 vần... tuy thơ có ý, nhưng cách dùng chữ và VẦN đã làm giảm đi âm điệu của bài thơ. Ở vị trí chữ thứ 6 và thứ 8 của câu Bát, ta không thể dùng 2 chữ có cùng một vần, đọc nghe không xuôi lại không thể gieo vần mới.

Thơ Lục Bát khởi ở tiếng bằng, nên thông thường trong câu thơ nào tiếng thứ nhì cũng là tiếng bằng. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp người ta dùng tiếng trắc, như khi dùng TIỂU ĐỐI (tiểu đối là cách đối trong câu... chia câu thơ ra hai đọan bằng nhau thành hai vế đối) hoặc trường hợp người ta gặp phải danh từ đặc biệt như:

Hà Nội băm sáu phố phường,

Ta cũng có thể đổi thành:

Hà Thành băm sáu phố phường,

Thế nhưng người ta vẫn muốn giữ nguyên hai chữ Hà Nội, nên đành phải dùng cách ngoại lệ!

Còn một cách ngoại lệ khác, thường gặp trong CA DAO như:

Trai khôn tìm vợ chợ ĐÔNG,

Gái khôn tìm CHỒNG giữa chốn ba QUÂN.

Thay vì chữ cuối của câu LỤC vần cùng chữ thứ 6 của câu BÁT, nhưng trường hợp này lại trái hẳn, chữ cuối của câu LỤC này lại vần cùng chữ thứ 4 của câu BÁT theo sau, và cấu kết của câu BÁT cũng thay đổi... thay vì chữ thứ 4 là trắc và thứ 6 là bằng, nhưng ở đây lại trái ngược Tuy không sai, nhưng chúng ta không nên dùng cách này nhiều trong 1 bài thơ!!!

Có người cho rằng nếu chữ thứ 2 là tiếng trầm, thì chữ thứ 6 nên là tiếng bổng, nhưng theo Nhất Lang thì trường hợp này không phải là vấn đề quan trọng (nếu ta bố trí chữ được như thế thì hay, còn không thì câu thơ vẫn không bị trúc trắc), mà chỗ quan trọng là chữ thứ 6 và 8 trong câu BÁT, như Nhất Lang đã nói qua trong bài nói về VẦN. Giờ viết lại thí dụ để nhắc nhỡ các bạn và các em:

ĐÚNG:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,

Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em TÔI.

SAI:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,

Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ.

Các bạn và các em đọc kỷ xem nơi nào trong câu thơ có vấn đề!!!

Để nhắc lại: Tiếng bổng của vần bằng là những tiếng KHÔNG CÓ DẤU HUYỀN, và tiếng trầm là những tiếng CÓ DẤU HUYỀN.

Luật trầmbổng chỉ nhất định áp dụng ở chữ thứ 6 và thứ 8 của câu BÁT trong thơ LỤC BÁT!!! Nếu chữ thứ 6 là trầm thì chữ thứ 8 PHẢI là bổng, nếu chữ thứ 6 là bổng thì chữ thứ 8 nhất định PHẢI là trầm.

Xem lại:

ĐÚNG:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,

Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em TÔI.

SAI:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,

Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ.

CHỜ và TÔI - 1 là tiếng trầm và 1 là tiếng bổng, hai chữ không bị chõi nhau...

CHỜ và VỀ - cả 2 đều là tiếng trầm, làm mất di âm điệu của thơ.

Thêm một thí dụ:

SAI:

Cỏ lay khẻ gọi chân NGƯỜI,

Đừng đi nhanh nhé bỏ RƠI tình TÔI.

Nghe qua lời thơ rất khá, nhưng cấu kết có trục trặc.

Nếu ta sửa lại vài chữ thế này thì câu thơ đọc nghe êm tai hơn...

Cỏ lay khẻ gọi chân NGƯỜI,

Đừng đi nhanh quá, đừng RỜI xa TÔI.

Tuy vậy, khi gieo vần mới bằng chữ TÔI, thì chúng ta nên cẩn thận, cần phải dùng vần chính, vì nếu dùng vần thông chúng ta lại có thể lập lại âm ƠI, thành ra lại bị trùng vần liên tục.

1. Luật bằng trắc

1.1. LUẬT ĐỊNH CHO CÂU LỤC

Tiếng thứ 2 bằng, tiếng thứ 4 trắc, tiếng thứ 6 bằng và VẦN

Đây là "công thức" mà các bạn và các em có thể học thuộc và dựa theo khi làm thơ Lục Bát:

Cho câu LỤC:

TD B TD T TD B(vần)

TD = Tự Do, nghĩa là bằng hay trắc cũng được.

B = bằng

T = trắc

1.2. LUẬT ĐỊNH CHO CÂU BÁT:

Tiếng thứ 2 bằng, tiếng thứ 4 trắc, tiếng thứ 6 bằng và VẦN, tiếng thứ 8 bằng và VẦN.

Cho câu Bát:

TD B TD T TD B(vần) TD B(vần)

LỤC và BÁT hợp thành:

TD B TD T TD B(vần*)

TD B TD T TD B(vần*) TD B(vần**)

Những điều trên là LUẬT bằng trắc nhất định cho thể thơ LỤC BÁT; làm thơ không đúng theo luật ấy là trái luật!

2. VẦN

Trong hai câu thơ LỤC và BÁT, câu LỤC chỉ có 1 vần ở cuối câu (chữ thứ 6) gọi là CƯỚC VẬN, mà câu BÁT thì lại có 2 vần ở giữa và cuối câu (chữ thứ 6 và gọi là YÊU VẬN và CƯỚC VẬN hoặc VẦN LƯNG và VẦN CHÂN.

Câu LỤC đầu có vần bằng đứng cuối và vần cùng chữ thứ 6 của câu BÁT theo sau... câu BÁT này lại có vần bằng đứng cuối (vần mới) và vần cùng chữ bằng cuối của câu LỤC theo kế... chữ cuối của câu LỤC này lại tiếp tục vần cùng chữ bằng thứ 6 của câu BÁT theo kế đó... và câu BÁT này PHẢI có 1 vần bằng mới để đổi sang vần khác cho đoạn thơ sau. Nếu vần cuối này không được thay đổi mà cứ tiếp tục kéo dài thêm như thí dụ trên thì bài thơ sẽ trở nên nhàm chán và mất đi âm hưởng của thơ.

3. Đối

Thơ Lục Bát có 2 câu dài và ngắn khác nhau, cho nên khi ta muốn đối, phải dùng TIỂU ĐỐI, tiểu đối là cách đối trong một câu, mà không dùng BÌNH ĐỐI như trong thơ THẤT NGÔN hoặc BÁT NGÔN, hai câu đối nhạu Khi dùng tiểu đối, người ta chia đều câu thơ ra hai đoạn... như trong câu LỤC, người ta chia ra thành 3 và 3, mỗi vế có 3 chữ đối nhau... như trong câu Bát, người ta chia ra thành 4 và 4, hai vế đối nhau.

Thí dụ:

"Trơ như đá, vững như đồng,"

hay

"Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,"

hoặc

"Khi gió gác, khi trăng sân,"

Để nhắc lại về điều ngoại lệ mà Nhất Lang đã nói ở trên là ngoài danh từ riêng, khi đối người ta có thể dùng chữ trắc ở chữ thứ 2 trong câu như câu đối thứ 3 trên.

Thêm một thí dụ:

"Trăng xanh gửi mộng, lan vàng hòa thơ."

Có rất nhiều cách đối: đối chữ, như: mẹ và cha, anh và chị, anh và em... đối vần: trắcbằng, đối ý: nghịch và thuận vv...

LỤC BÁT còn có các loại BIẾN THỂ, những loại này thường gặp trong Ca Dao, Bài Hát, Hò Vè vv...

Đây là 1 thí dụ mà chúng ta đã nghe từ nhỏ:

"Con cò, cò bay lả, lả bay la,

Bay qua, qua cửa Phủ, Phủ bay về, về Đồng Đăng."

Đây là thí dụ cách dùng chữ trắc trong thơ LỤC BÁT:

Yêu là thương, yêu là HẬN,

Là đợi chờ, là hờn GIẬN vu VƠ.

Yêu là lệ đẩm hoen MỜ,

Dở thương, dở hận, dở CHỜ, dở KHÔNG!

Khi dùng loại biến thể trên, hai câu đầu có sự thay đổi ở vị trí vần luật, như chữ ĐỢI và HỜN ở vị trí thứ 2 và thứ 4 so với thường lệ.

Mong rằng những điều trên giúp ích cho các anh chị, các bạn, và các em.

Thân mến chúc tất cả thành công.

-Nhất Lang-

Thơ song thất lục bát

Cũng như LỤC BÁT, SONG THẤT LỤC BÁT thường được dùng trong những truyện thơ, và là thể loại thứ hai của hai thể thơ "chính tông" trong Việt thi.

Song Thất Lục Bát là loại thơ mở đầu bằng hai câu THẤT, rồi tiếp đến hai câu LỤC BÁT, tạo thành một KHỔ với ý từ trọn vẹn. (có nghĩa là trong 4 câu phải trọn vẹn một ý.)

Dưới đây là thí dụ của thể Song Thất Lục Bát:

*Chú ý và ghi nhớ các chữ viết "HOA".

NIỀM ĐAU CỦA CÁT

Đâu ai HIỂU niềm ĐAU, của CÁT,

Cứ âm THẦM rào RẠT thâu ĐÊM.

Sóng ra biển, cát lại CHÌM,

Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!


Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,

Cã một ĐỜI sóng TẠT mưa TRÔI.

Đêm qua được sóng trao LỜI,

Đêm này lại ngóng ánh NGỜI lao XAO.


Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,

Vẫn âm THẦM rào RẠT thâu ĐÊM.

Sóng ơi, cứ tạt, cứ DÌM,

Miễn sao ta được sóng TÌM đến THĂM.


Ta yêu SÓNG từ TRĂM vạn KIẾP,

Đừng như THUYỀN nối TIẾP ra ĐI.

Thuyền rời cát chẳng buồn CHI,

Sóng xa, cát sẽ phế ĐI kiếp này!

CẤU KẾT:

Câu THẤT trên (câu số 1), tiếng thứ 3 là chữ trắc, tiếng thứ 5 là chữ bằng, và tiếng thứ 7 là chữ trắc và VẦN.

Câu THẤT dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ bằng, tiếng thứ 5 là chữ trắc, vần cùng chữ thứ 7 của câu THẤT trên, và tiếng thứ 7 là chữ bằng, tạo vần cho chữ cuối của câu LỤC theo sau.

Hai câu Lục Bát thì theo luật của Lục Bát mà chúng ta đã biết qua.

Trong câu THẤT trên của đoạn 2 và các đoạn theo sau, mọi điều vẫn giữ nguyên, nhưng chữ thứ 5 phải theo vần của chữ thứ 8 trong câu BÁT trên (chữ cuối của đoạn đoạn trên, hay khổ trên.

"Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,"

Câu Thất dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ bằng, tiếng thứ 5 là chữ trắc và VẦN với tiếng thứ 7 của câu trên, tiếng thứ 7 của câu 2 này lại là chữ bằng và VẦN cùng chữ cuối của câu 3, tức câu LỤC theo sau.

"Cứ âm THẦM rào RẠT thâu ĐỆM"

***Song Thất Lục Bát không giống như Thất Ngôn Luật theo lối Hán văn, vì luật bằng trắc được áp dụng trong Song Thất ở chữ thứ 3, thứ 5, mà trong Thất Ngôn Luật thì chữ thứ 3 và chữ thứ 5 lại có thể theo lệ BẤT LUẬN.

Sau hai câu Thất là hai câu Lục Bát, theo luật của Lục Bát... chữ cuối của câu LỤC vần với chữ THẤT của câu THẤT dưới (câu THẤT thứ nhì):

"Sóng ra biển, cát lại CHÌM,

Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!"

Tiếng thứ 5 của câu Thất theo kế vần với tiếng cuối của câu Bát trên: (tức câu THẤT thứ nhất của đoạn sau... và là câu thứ năm trong bài):

"Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!

"Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,"

Tiếng cuối của câu Thất này lại tiếp tục vần với tiếng thứ 5 của câu Thất theo sau như lúc bắt đầu.

ĐỐI: Thơ Song Thất Lục Bát có hai câu Thất, cho nên nếu người ta muốn đối, thì có thể dùng bình đối, như:

"Quê hương BẠN kề BÊN biển BẮC,

Đất nước TÔI xa LẮC trời NAM."

BÌNH ĐỐI là một cách đối một câu chọi một câu (không như TIỂU ĐỐI: hai vế của một câu đối nhau trong Lục Bát)

ĐIỀU NGOẠI LỆ: Thông thường chữ thứ 3 của câu Thất trên là chữ trắc, nhưng trong trường hợp KHÔNG CÓ ĐỐI ở câu THẤT dưới, thì chữ thứ 3 của câu Thất trên có thể là chữ bằng. Ở đây chúng ta lại có thể dùng chữ thứ 3 này theo vần chữ cuối của khổ trên, thay vì phải là chữ thứ 5 như luật bình thường.

*Điều giúp các bạn và các em dễ nhớ luật SONG THẤT là "cấu kết của 2 câu này đối nghịch nhau":

trắc, bằng, trắc (luật của câu trên)

bằng, trắc, bằng (luật của câu dưới)

Thơ mới

Thơ Mới bao gòm nhiều dạng thơ tự do như các loại 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 chữ và thậm chí lên đến 11 chữ.

Như Nhất Lang nói qua, cho dù là thể loại tự do người yêu nghệ thuật vẫn phải theo quy tắc nghệ thuật. Thơ tự do là thơ không theo NIÊM LUẬT bắt buộc, nhưng vẫn phải theo VẦN và kiểu cách ra sao là do biệt tài của mỗi người, của mỗi thi nhân.

(Ở đây Nhất Lang chỉ nói đến loại thơ thông dụng nhất trong lãnh vực tình yêu là loại thơ Bát Ngôn - 8 chữ - Các loại khác xin các bạn xem ở bài nói về Thơ Tự Do.)

Một trong những loại Thơ Mới là thể loại thơ 8 chữ, một thể loại thơ mang đầy tư tưởng lãng mạn, phát xuất từ văn học Tây phương, đã được du nhập và Việt hóa từ loại thơ "vần cuối câu" của Pháp thành loại thơ 8 chữ vào khoảng những năm 1930-1940.

Thơ Mới không có chiều sâu bằng Thi Ca dân tộc; tuy nhiên nó đặc biệt "quan tâm" nhiều đến lãnh vực tình yêu!

Qua cái tên chúng ta cũng hiểu được Thơ Mới hãy còn non nớt lắm, thế nhưng Nhất Lang tin rằng trong tương lai, ở thế hệ mai sau, Thơ Mới sẽ được biến hóa hay hơn và được xử dụng trong những tác phẩm lớn.

Với tin thần yêu mến nghệ thuật văn thơ, Nhất Lang xin được ghi lại đây những gì mình học hỏi được và kinh nghiệm được trong những năm qua. Nếu gọi là hiểu biết thì thời gian ấy hãy còn chưa đủ, Nhất Lang chỉ mong được làm một việc gì nhỏ nhoi để gọi là góp phần gìn giữ những gì cha anh mình đã tìm tòi và để lại cho con em đời sau.

Thông thường thì loại thơ này mỗi câu có 8 chữ, thỉnh thoảng cũng có những câu có đến 9, 10 hoặc cả những 11 chữ. Vì cũng là thể loại tự do nên khi làm thơ BÁT NGÔN ta có thể bắt đầu bằng bất cứ hình dạng nào, hoặc chữ bằng ở cuối câu đầu, hoặc chữ trắc ở cuối câu đầu.

Trước khi đi vào cách làm thơ, Nhất Lang xin gửi đến các bạn một vài điều cần nhớ:

Cho dù là thể loại tự do, không theo khuôn khổ, trong thơ BÁT NGÔN có một điểm cần xem như luật định - Nếu chữ cuối câu được xếp bằng chữ bằng thì chữ thứ 6 của câu nhất định phải là chữ trắc, và ngược lại, nếu chữ cuối câu là chữ trắc thì chữ thứ 6 của câu nhất định phải là chữ bằng -- Không theo luật định này thì bài thơ rất là trúc trắc khó đọc vì bị mất đi âm điệu.

Ngoài ra, chúng ta nên chọn chữ sao cho bằngtrắc khá cân bằng... nếu một câu thơ có đến 6 hoặc 7 chữ cùng loại (6 - 7 chữ bằng hoặc 6 - 7 chữ trắc) thì nên cẩn thận kẻo âm điệu của bài thơ bị lạc, đọc nghe không giống thơ nữa. Tuy thế, ta không nhất định phải dùng đúng 4 chữ bằng và 4 chữ trắc, 3 và 5 cũng đã đạt lắm.

Dưới đây là những cách làm thơ BÁT NGÔN (thơ 8 chữ). Nhất Lang sẽ tìm những thí dụ thích hợp và "EDIT" bài lại sau cho các bạn xem.

Chú thích:

td = dùng chữ tự do - hoặc bằng, hoặc trắc

B = bằng

T = trắc

V = Vần

1)

td td td td td B td T

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T

td td td td td T td B(V)

Cách thức trên được gọi là Tứ Tuyệt (4 câu cho mỗi đoạn) và theo dạng trốn vần như các bạn đã thấy trong một số bài thơ Thất Ngôn của Hán văn. Nếu muốn làm dài hơn các bạn có thể theo cách thức này, đổi vần cho mỗi đoạn mới và cứ thế mà làm - bài thơ có nhiều đoạn 4 câu thì gọi là Tứ Tuyệt Trường Thiên.

2)

td td td td td B td T(V*)

td td td td td T td B(V**)

td td td td td B td T(V*)

td td td td td T td B(V**)

Cách thức trên cũng gọi là Tứ Tuyệt và theo dạng cách vận - cách vận nghĩa là vần cách 1 câu hay vần xen kẽ. (chữ trắc cuối câu 1 vần cùng chữ trắc cuối câu 3, chữ bằng cuối câu 2 vần cùng chữ bằng cuối câu 4. Nếu muốn làm bài Trường Thiên thì các bạn cứ theo kiểu mẫu trên mà chọn vần mới và làm tiếp theo.

Thí dụ cho cách thứ 2:

QUÊN

Đã hẹn với em rồi, không tưởng TIẾC

Quãng đời xưa, không than khóc vì ĐÂU

Hãy buông lại gần đây làn tóc BIẾC

Sát gần đây, gần nữa, cặp môi NÂU.


Đêm nay lạnh, tìm em trên gác TỐI

Trong tay em dâng cả tháng năm THỪA

Có lẽ đâu tâm linh còn chọn LỐI

Để đi về cay đắng những thu XƯA.


Trên nẻo ấy, tơi bời, em đã BIẾT,

Những tình phai, duyên úa, mộng tan TÀNH.

Trên nẻo ấy, sẽ từ muôn đáy HUYỆT

Ái ân xưa vùng dậy níu chân ANH.


Không, em ạ, không còn can đảm NỮA

Không, nguồn yêu suối lệ cũng khô RỒI

Em hãy đốt giùm anh trong mắt LỬA

Chút ưu tư còn sót ở đôi MÔI...


Hãy buông lại gần đây làn tóc RỐI,

Sát gần đây, gần nữa, cặp môi ĐIÊN.

Rồi em sẽ dìu anh trên cánh KHÓI

Đưa hồn say về tận cuối trời QUÊN.

Vũ Hoàng Chương

Dưới đây là cách đảo ngược của kiểu mẫu trên:

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

Cách này không khác chi cách trên, chỉ là đổi nghịch!

3)

td td td td td B td T

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)


td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T


Cách thức trên thường được dùng cho những bài Tứ Tuyệt Trường Thiên, và theo dạng liên vận - liên vận nghĩa là vần liên tục hay nói rõ hơn là vần theo sát từng đôi.


Chữ cuối câu 1 là chữ trắc, không vần cùng chữ khác... chữ cuối câu 2 là chữ bằng và vần cùng chữ cuối câu 3, cũng là chữ bằng, chữ cuối câu 4 là chữ trắc, chữ này có "nhiệm vụ" gieo vần và tạo mối liên quan cho đọan theo sau, nghĩa là chữ này sẽ phải vần cùng chữ trắc cuối câu 1 của đọan theo sau. Cứ như thế mà làm dài ra cho đến khi bài được kết thúc... chữ trắc cuối câu sau cùng sẽ không vần cùng chữ nào cả!


Dưới đây là thí dụ cho cách thức trên:

GIÃ BIỆT NÀNG THƠ


Giã biệt nhé, nàng thơ thanh nhã,

Ánh trăng vàng, anh xin trả cho em.

Cứ những đêm gió mát với trời êm,

Đình vọng nguyệt, trăng kia soi gót ngọc.


Đường lữ thứ, anh một mình cô độc,

Kiếp phiêu bồng nhớ mãi bạn tình thơ.

Nắm thơ kia, anh góp nhặt từng tờ,

Mang theo cả, làm hành trang kỷ niệm.

Nhất Lang

Ta cũng có thể đổi ngược lại như sau:


td td td td td T td B

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)


td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td dt T td B


Cách làm không khác nhau, ngoại trừ bằng đổi thành trắc, trắc đổi thành bằng ở những vị trí có vần và cần âm điệu.

Dưới đây là một thí dụ của cách thức trên:

TẶNG CHO ANH


Bài thơ này Nhỏ viết đã mấy hôm

Nửa muốn tặng, nửa muốn mình Nhỏ đọc

Nhưng thôi đi... Nhỏ chịu làm cô ngốc

Đọc anh nghe với cả tấc lòng thành


Tin không nè, Nhỏ cầu phúc cho anh?

Tâm Nhỏ đó sẽ luôn dành riêng chỗ

Như biển kia quen rồi nghe sóng vỗ

Hình bóng anh, Nhỏ giữ mãi chẳng mờ.


Nhỏ nguyện mang tâm sự của cát bờ

Nằm lặng lẽ nghe trùng dương trách cứ

Cất giùm anh những ngày sầu cô lữ

Giữ toàn vui... anh đẹp mộng song hành.


Giữ nụ cười cho đời đẹp như tranh

Nhỏ tiếp tục đi kiếm tìm hạnh phúc

Để cho anh...mai này còn có lúc

Nhớ thật nhiều cô nhỏ thích chiêm bao.

LaLan

4)

td td td td td B td T

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(B)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T

Cách thức trên được vẽ theo dạng Nhiều Câu ( không chia ra vế từng 4 câu) Cũng có thể đổi ngược.

5)

Một dạng Nhiều Câu khác:

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T

Hay là:

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td B td T(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td T td B

Cách thức dưới đây do Nhất Lang tự chế cho có chút ràng buộc:

td td td td td B td T(v)

td td td td td T(v) td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B(v) td T(V)


td td td td td B td T(V)

td td td td td T(v) td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td td B(v) td T

Một thí dụ:

TÔI ĐÃ BẢO


Tôi đã bảo tôi đa tình lãng TỬ,

Yêu thương rồi, đừng trách CỨ chi TÔI.

Em như thuyền, ngày ấy nhẹ nhàng TRÔI,

Chừng biển động, em rằng TÔI gọi SÓNG.


Cố nhân ơi, nhớ chăng chiều gió LỘNG?

Gã đa tình nối từng CỌNG tóc MAI.

Thả diều lên theo gió tận ngàn MÂY,

Thơ đề lá, tặng ai CÀI tóc RỐI!


Em thường bảo, "đa tình không có TỘI,

Chỉ vô tình mới có LỖI mà THÔI".

Duyên không tròn, giờ mai trúc lìa ĐÔI,

Em lại nỡ mang tình TÔI lăng MẠ.


Khi gần nhau, em gọi mời đon ĐẢ,

Lúc xa rồi, em độc CÁ ao TÔI.

Trong tình trường, nam, nữ... cũng thế THÔI,

Ý niệm đẹp là xa RỒI vẫn GIỮ.


"Yêu anh lắm, chàng đa tình lãng TỬ,

Em ghi hoài lời tình TỰ anh TRAO;

Dù một giây trong ân ái ngọt NGÀO,

Mai có thác, em mang THEO xuống MỘ".


Có phải chăng lời tình ai ấp Ủ,

Hay chỉ là trận cuồng LŨ si MÊ?

Rồi giờ đây, khi hồn mộng quay VỀ,

Em đổ tại, vì trời KHUYA, phận GÁI!

Nhất Lang

Theo thường lệ thì trong Thơ Mới chỉ có CƯỚC vận, không có YÊU vận, nghĩa là vần ở cuối câu chứ không có vần ở giữa câu. Như Nhất Lang đã nói, vì muốn có chút ràng buộc nên đã chế ra thể loại này, dựa theo một điểm của thơ SONG THẤT LỤC BÁT.

ĐIỀU NGOẠI LỆ

Mỗi thể thơ đều có những điều ngoại lệ --- dưới đây là hình thức ngoại lệ của thể loại này:

td td td td td B td T(v)

td td td td T(v) T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td B(v) B td T(V)


td td td td td B td T(V)

td td td td T(v) T td B(V)

td td td td td T td B(V)

td td td td B(v) B td T


Theo thể SONG THẤT thì chữ trắc cuối câu trên vần cùng chữ trắc thứ 5 của câu dưới! Trường hợp chúng ta không tìm ra vần cho chữ thứ 6 của câu 2 hoặc chữ thứ 6 của câu 4 trong mỗi đoạn thì chúng ta có thể tạo vần ở chữ thứ 5 như trong thơ Song Thất Lục Bát. Sự tương tự của Song Thất Lục Bát và loại 8 chữ này là ở lý lẽ VẦN Ở CHỮ THỨ 5 TỪ ĐẦU CÂU HOẶC CHỮ THỨ 3 TỪ CUỐI CÂU.


Một thí dụ có điều ngoại lệ:

Đê Mê


Nép nhìn em trầm mình trong suối NƯỚC,

Anh ngây hồn như lạc BƯỚC cung TIÊN.

Nhìn tay em phác nước đỉnh non HIỀN,

Anh như thấy một đào NGUYÊN trước MẶT.


Cả không gian, thời gian như im BẶT,

Chỉ hồn anh đang đuổi BẮT hồn ANH.

Trong đê mê, anh phát giác hồn MÌNH,

Đang đắm đuối, trườn GHỀNH và xuống THÁC.


Đỉnh non lam tỏa mùi hương ngào NGẠT,

Anh thả hồn theo cung NHẠC du DƯƠNG.

Rời cung tiên lại lạc đến thiên ĐƯỜNG,

Anh ngất lịm trong mơ MÀNG hoan lạc.

Nhất Lang

Trong thí dụ trên có một điểm ngoại lệ; chữ GHỀNH nằm vào vị trí thứ 5 chứ không phải thứ 6 trong câu như thường lệ

Tuy thế, câu thơ vẫn không bị trúc trắc!


Muốn tránh khỏi trường hợp NGOẠI LỆ trên, ta có thể sửa cả câu thơ lại thế này:


Thay vì: Đang đắm đuối, trườn GHỀNH và xuống thạc


Ta sửa lại: Đang đắm đuối, đang trườn GHỀNH... xuống thạc


***KHI CÓ THỂ Nhất Lang sẽ "edit" và thêm vào bài mẫu cũng như các thể loại tự do khác.


Thơ tự do

Từ cái tên, ta đã biết thơ tự do là những thể loại không nhất thiết phải theo một thể luật nào, mà cách hành thơ và bố trí chữ ra sao thì tùy thuộc vào người làm thơ. Tuy nhiên, một bài thơ hay, một bài thơ đi vào lòng người, ngoài hồn và ý, bài thơ còn phải có vần có điệu, có bổng có trầm, và cần có công phu chọn lọc, từ, ý, đối từ, đối ý vv... Những căn bản trên là nững yếu tố cần thiết khi làm thơ!


Dùng lời sâu xa hay đơn giản, cô đọng hay mộc mạc thì tùy thuộc vào kiểu cách của mỗi một người làm thơ, quan trọng là làm sao cho người đọc hiểu được điều mình muốn nói, nếu không thì bài thơ ấy chỉ cho một mình tác giả đọc mà thôi.


Thơ tự do có rất nhiều hình dạng: có loại mỗi câu chỉ có 2 chữ, 3 chữ và lên đến 11 chữ; những loại có từ 9 chữ trở lên chỉ thường có trong các tuồng hát mà thôi. Các loại 2 và 3 chữ rất ít người làm, thông dụng là các loại từ 4 chữ trở lên đến 8 chữ - 8 chữ là loại thơ mới và đặc biệt đào sâu vào tư tưởng Tình yêu và lãng mạn. Vì loại thơ này có tính cách đặc biệt, nên Nhất Lang ghi lại ở một chủ đề khác là "Tập Làm Thơ Mới"!


Vần và âm điệu trong thơ tự do được xếp ra sao là do nơi sáng tạo của mỗi người làm thơ.


Nhất Lang đem vào đây một ít bài theo các dạng tự do để các anh chị, các bạn và các em tham khảo.

CHỢP GIẤC ĐI EM


Anh đã đến cạnh bên

Sao vẫn còn trằn trỏc

Cho hao mòn dóc ngọc

Nàng ơi hãy vui lên!


Anh đã đến cạnh bên

Cho hồn em thôi lạnh;

Từ rày sẽ ở cạnh

Tăm tối chẳng còn len.


Anh đã đến cạnh bên

Bằng khối xương và thịt;

Cả đời cho em hết...

Thôi, chợp giấc đi em!

-của Nhất Lang-


*Bài trên theo dạng ngũ ngôn vần trắc (hai câu 2 và 3 của mỗi đoạn có chữ cuối câu là chữ trắc và vần nhau, những chữ bằng cuối câu của mỗi đoạn tạo vần cho chữ cuối câu 1 của đoạn khác.)

ĐÊM DÀI


Sao biếc đầy trời,

Sầu trông viễn khơi.

Đêm mờ yên lặng,

Nhìn hạt sương rơi.


Đêm nay mình anh,

Dưới trăng vàng tơ mành.

Nhớ hồn em trong mơ,

Buồn viễn vọng đợi chờ.


Đây nghe trăng vàng rụng,

Trên dám cỏ chiều sương.

Đây nghe lòng rung động,

Lẩn thẩn trót canh trường.


Nào biết đến đời mô,

Chúng ta còn gặp gỡ.

Ghé muôn bến sông hồ,

Mà anh còn bỡ ngỡ.


Đời lặng dòng nhẹ trôi,

Thuyền trôi theo dòng đời.

Đêm buồn lan khắp xóm,

Bờ tre cũng nín hơi.

-của Khổng Dương-

---------------

Bài trên được làm theo thể phối hợp 4 chữ và 5 chữ cho mỗi câu, lúc thì 3 vần, lúc thì 2 vần cho mỗi đoạn và liên vận cách vận lẫn lộn, cũng có những câu cùng một đoạn lại không có cùng số chữ. Thế nhưng bài thơ vẫn không bị trúc trắc vì có vần và âm điệu!

HỜN AI MÀ LẮM THẾ?


Hờn ai mà lắm thế

Để cho dạ rối bời

Để cõi hồn chơi vơi

Giọt sầu rơi khóe mẳt


Hờn ai mà lắm thế

Có phải hờn sóng triều

Cứ để bờ cô liêu

Mãi rong chơi cùng gió?


Hờn ai mà lắm thế

Để đôi má thôi hồng

Để lệ như nước sông

Để lòng thêm bối rối?


Hờn ai mà lắm thế

Đến lệ chẳng ngừng rơi

Cho tóc cũng rối bời

Môi son không còn đẻp

-của Nhất Lang-


*Bài trên theo dạng ngũ ngôn tự do 2 vần, hay nói cách khác là liên vận bằng (nghĩa là 2 chữ cuối của 2 câu liên tục có cùng vần, và là vần bằng.) Mỗi một đoạn đều bắt đầu bằng câu (lời) tựa.


Dưới đây là một thí dụ được mang ra từ Ca Dao Việt Nam:

Gió đánh cành TRE,

Gió đập cành TRE,

Chiếc thuyền anh vẫn le TE đợi NÀNG.

Gió đập cành BÀNG,

Gió đánh cành BÀNG,

Dừng chèo anh hát, cô NÀNG hãy nghe.

* Loại thơ trên mỗi khổ có 6 câu, cứ 2 câu 4 chữ, (có vần cuối câu) lại đến một câu 8 chữ, có YÊU vận lẫn CƯỚC vận như câu BÁT trong thơ Lục Bát. Yêu vận của câu Bát này vần theo cước vận của câu 4 chữ trên - nghĩa là chữ thứ 6 của câu này vần theo chữ cuối của câu 4 chữ ở trên. Chữ cuối của câu Bát này (gọi là cước vận) tạo vần mới cho câu 4 chữ theo sau, và nửa khổ sau cứ theo cấu trúc của nửa khổ trước!

ĐÊM MÙA HẠ


Tháng tư đầu mùa HẠ

Tiết trời thực oi Ả

Tiếng dế kêu thiết tha

Đàn muỗi bay tơi TẢ.

Nỗi ấy ngỏ cùng ai?

Cảnh này buồn cả DẠ

Biến nhắp năm canh chầy

Gà đà sớm dục DÃ.

-của Nguyễn Khuyên


*Bài trên được làm theo dạng ngũ ngôn 5 vần trắc - nghĩa là bài thơ khởi ra bằng vần trắc ở cuối câu và trọn bài mang vần trắc. Nếu ta đếm thì sẽ thấy bài thơ có 5 vần trắc, 3 chữ bằng ở cuối 3 câu xen kẽ không kể trong luật vần.

LẠC LÕNG


Vẫn còn nhau trong gang TẤC,

Vẫn còn nhịp rung đôi MÔI,

Thế mà hồn ta lạc MẤT,

Để mắt nhìn nhau... xa XÔI!

-của Nhất Lang-


*Bài trên được làm theo dang LỤC NGÔN hay nôm na thì ta gọi là thơ 6 chữ: loại này chỉ quan trọng vần cuối câu, Nhất Lang dùng cách vận của cả trắcbằng.


Thơ tự do là những bài thơ như trên, người làm thơ không phải theo niêm luật nhất định nào, tuy nhiên vẫn phải xem trọng vần điệu và âm thanh cũng như đối!


KẾT HỢP MỚI của Nhất Lang


Từ những học hỏi và kinh nghiệm bấy lâu nay ở nơi những tâm trạng buồn vui, sướng khổ, ngọt bùi, cay đắng, hạnh phúc & tột cùng đau tủi vv... Nhất Lang cho rằng sự kết hợp của nhiều thể loại trong một bài thơ sẽ mang đến những điều mới lạ trong ý thơ và trong âm điệu của thơ. Vì ý niệm ấy, Nhất Lang sáng chế ra một sự kết hợp của các thể loại, vừa theo thể luật, vừa theo thể tự do và hoàn toàn tùy thuộc vào sự sắp xếp của người làm thơ. Loại thơ này chỉ đòi hỏi một điều là phải nắm vững luật gieo vần, để sự kết hợp về vần điệu không bị rời rạc!


-----------

Một thí dụ:

LỠ CHUYẾN ĐÒ XƯA


Bỏ đò, bỏ bến, bỏ dòng sông,

Cô lái năm xưa đã lấy chồng.

Ngớ ngẩn mình tôi... chiều gió lộng,

Hỡi đò, cô lái có còn KHÔNG?


Hết rồi lời hẹn bên SÔNG,

Người xưa giờ đã thay lòng còn đâu!

Kim ô đã lặn xuống cầu,

Cớ chi tôi mãi âu sầu vì AI?


Giấc mơ cũ giờ BAY theo gió,

Nàng đi rồi phương đó xa xăm.

Mắt vời trông cõi mù tăm,

Chúc nàng hạnh phúc, trăm năm bên người!

-của Nhất Lang-

Các anh chị cùng các các bạn và các em xem cách kết hợp về vần điệu ở những cuối câu của mỗi đoạn thơ hay mỗi thể thơ. (Nhất Lang dùng chữ HOA ở những nơi quan trọng để dễ tham khảo.)

***********

Đến cùng tất cả các anh chị, các bạn và các em!

Tâm nguyền của Nhất Lang đã gửi trọn đến các anh chị, các bạn và các em trong những bài viết mà Nhất Lang đã đăng. Bao nhiêu đó là tất cả những căn bản về cách làm thơ mà Nhất Lang hiểu được; mong rằng nhiều hay ít cũng có thể giúp được tất cả phần nhỏ nhoi nào trong việc tìm hiểu thơ văn nước nhà.

Người yêu mến và hiểu được nghệ thuật này luôn có trách nhiệm giữ gìn và lưu truyền hiểu biết của mình lại, nên Nhất Lang chỉ làm việc mà mình nên làm, không hề có một tâm ý gì khác hơn. Nay đã làm xong trách nhiệm của kẻ học làm thơ trước thời gian ước đoán, Nhất Lang đang sẵn sàng chờ đón "sự gì" sẽ đến cùng mình!

Gửi đến tất cả những gì Nhất Lang trân trọng nhất!

Hoạ đáp thơ

Họa đáp thơ và đối thơ không giống nhau, họa đáp thơ là cách phụ họa, tô vẽ cho một đề thơ, là đáp ý và lời của một bài thơ đã được đề ra, là phản lại ý của một bài thơ đã được đề ra! Còn ĐỐI khác hơn ở chỗ luôn luôn dùng từ và ý "khác chiều" để so sánh hai điều hợc hai ý tương đương.

Có nhiều cách họa đáp thơ:

- Họa nguyên vận - nghĩa là theo vần của bài đề từ trên xuống dưới - nếu giữ được nguyên cả những từ mang vận thì càng hay.

Thí dụ:

LẠC BƯỚC (bài của CaoNguyen)


Tôi lạc bước vào nơi Hiền Quán

Cảnh muôn màu, một thoáng trời mơ

Cổng thênh thang hùng dũng đợi chờ

Tôi bỡ ngỡ... cứ ngờ tiên cảnh


Nơi rừng xa núi cao hiu quạnh

Quán Tựu Hiền bối cảnh vui tươi

Với những cô tỷ muội mỉm cười

Nét kiều diễm tiên trời hạ giáng


Cả nam nữ thơ văn trí vạn

Tánh hiền hòa hình dáng thanh cao

Đón khách xa tấp nập ra vào

Như huynh đệ lời trao tình thắm


Tôi lãng tử phương xa ngàn dặm

Thích giang hồ thưởng ngắm trời xa

Chiều hôm nay lạc bước ngang qua

Xin Hiền Quán ly trà... nếu được


Gởi lại đây tạ ơn... lời trước

Sáng ngày mai rời bước lãng du

Ly trà thâm... ghi mãi cho dù

Đời lãng tử phiêu du vô định...

(bài họa của Nhất Lang theo sau)

Anh Lữ Khách, trưởng huynh Hiền Quán,

Xin nghiêng mình đón bạn đường xa.

Nữ Nhi Hồng thay rượu Quỳnh Hoa,

Mời nhắp cạn... họa thơ ngắm cảnh.


Cảm ơn huynh đèo ngang không chạnh,

Hiền Quán tôi hân hạnh đón mời.

Đã ghé qua xin chớ vôi rời,

Các hiền muội... sớm mai sẽ tạn.


Xin vạn tạ lời huynh tán thán,

Tụ Hiền môn tài cán là bao.

Nào dám đâu nhận chữ Thanh Cao,

Duyên kỳ ngộ, tri giao đã ấm.


Huynh, lãng tử phương xa ngàn dặm,

Tôi, lữ hành ngàn dặm đã qua.

Đêm nay sơ ngộ dưới trăng tà,

Nâng chum tửu, quan hà... chậm bước.


Duyên lãng tử mấy khi có được,

Tôi cầm bầu cạn trước một tu.

Đường quan san sương gió mịt mù,

Mấy lúc được tạc thù mà định...

* bài họa của Nhất Lang ngoài theo vần, còn giữ nguyên thể loại thơ. Ta không nhất định phải theo cùng thể loại, nhưng trong cách thức này thì phải theo vần.

Lĩnh vực cao nhất của cách họa này là giữ nguyên từ có vận của bài đề - những từ mà Nhất Lang dùng màu cho các bạn nhìn thấy rõ - muốn họa như thế rất khó, nên ta chỉ cố giữ được từ nào hay từ ấy!


(CaoNguyen họa đáp lời)

Nguyên xin chào trưởng huynh Hiền Quán

Hân hạnh này muôn vạn của Nguyên

Đã dừng chân mang đến nhiễu phiền

Nữ Nhi Hồng... rượu tiên nào dám


Nhưng huynh đã một ly đàm phán

Vậy Nguyên này xin cạn một ly

Rượu của huynh thật quả diệu kỳ

Hương thơm ngọt nồng di tâm quản


Huynh Lữ Khách thật là hào khoán

Trăng chẳng tàn... anh phán lời thơ

Gió ngừng trôi, mây sẽ đợi chờ

Khi anh ghép vần thơ chung rượu


Hân hạnh nhiều cùng anh thi tửu

Sơ ngộ này vĩnh cửu không phai

Tạm biệt anh vào sớm ngày mai

Đường lãng tử bao dài... mãi nhớ...

* bài trên họa lại theo lối khác, một lối đáp lời mà không theo vận.

NẾU THẬT CUỘC ĐỜi CÓ KIẾP SAU (của LaLan)


Nếu thật cuộc đời có kiếp sau,

Nhỏ mong được hóa kiếp sang giàu.

Sẽ gom mua hết buồn nhân thế,

Để người vui sống chẳng còn đau.


Nếu thật cuộc dời có kiếp sau,

Nhỏ mong tình ái mãi đẹp màu.

Dù mư, dù nắng, tình đừng nhạt,

Yêu đến trọn đời ẫn còn nhau.


Nếu thật cuộc đời có kiếp sau,

Nhỏ hứa sẽ ngoan, sẽ thuộc làu.

Nhớ hoài nhớ mãi lời mẹ dạy,

Hông để tuổi khờ vụt qua mau.


Nếu thật cuộc đời có kiếp sau...

*Bài trên tác giả cố ý để một câu thòng, cố ý buộc người họa phải theo mình...


(Bài họa theo của Nhất Lang)

Ne^'u tha^.t cuo^.c ddo*`i co' kie^'p sau...

Anh mong được ở cạnh "người giàu".

Được nàng san sẻ buồn nhân thế,

Được sống bên nàng... chẳng mất nhau.


Nếu quả cuộc đời có kiếp sau,

Anh mong tình ái thắm một màu.

Màu tím thủy chung và chờ đợi,

Hay màu xanh lá, chẳng phai mau.


Nếu quả cuộc đời có kiếp sau,

Anh mãi làm mây trắng năm nào.

Sẽ là lữ khách ru tình mộng,

Chẳng để tuổi khờ vụt qua mau!

- Họa nghịch vận - nghĩa là không theo vần từ trên xuống như cách thức trên mà theo vần từ dưới lên, tức là dùng vần cuối cùng của bài đề mà theo cho câu thơ thơ đầu của mình, cứ như thế mà đi ngược lại!

------------

Cả hai cách thức trên đòi hỏi bài họa phải có số câu bằng bài đề, nếu không sẽ không cân đồng thì mất hay.


Nếu dùng hai cách trên mà còn họa lại lần thứ nhì thì người ta gọi là TỤC VẬN.


- Họa đáp ý - họa đáp ý không cần theo vần, cũng không cần theo thể loại, miễn sao đáp được ý bài đề là đủ. Giống như bài thứ nhì của CaoNguyen ở trên. Nói cách khác là họa theo lối hồn ai nấy giữ, thể thức ai nấy theo, nhưng phải theo "ý tứ" và "tình điệu".

CÓ THỂ NÀO (của MC_TT)


Có thể nào

Tâm hồn mình nhung ngớ

Một người chưa từng gặp

Để đêm về

Nghe lòng sao thương nhớ

Có thể nào

Chỉ vì những vần thơ...

Đêm không ngủ

Mong chờ từng đêm một


Có thể nào

Tim vỗ nhịp yêu đương

Có thể nào? Có thể nào?

Hình như là có thể...

Vì anh ơi...

Bé đã yêu anh, tự lúc nào

Trong tiềm thức.


Có thể lắm...

Những đêm dài rạo rực,

Xác lẫn hồn...

Anh cũng thức trong đêm.

Nhắm mắt lại...

Lòng nhung nhớ dâng thêm,

Khi mở mắt...

Hồn dường như đang mộng.


Có thể lắm...

Nếu em yêu mến giọng,

Điệu thơ tình...

Anh viết nhịp yêu đương.

Có thể lắm...

Vì anh cũng vấn vương,

Này bé hỡi...

Anh đã yêu thương bé!

-của Nhất Lang-

Có thể nào

Anh vì em nhung nhớ

Có thể nào

Anh thức trọn vì em

Có thể nào

Tay trong tay chung lối

Có thể nào

Ta chung bước chung đường


Có thể nào

Tình trong mơ như thật

Có thể nào

Ôm em chặt không anh?

Có thể nào

Tìm môi hôn trong mộng

Có thể nào...

Có thể nào...

Anh yêu em không nhỉ?

-của MC_TT-

Em hỏi gì

Mà hỏi nhiều thế nhỉ?

Em hỏi gì

Mà hỏi kỷ thế kia?

Hãy hỏi lòng,

Trong những thoáng canh khuya;

Em có nhớ...

Chàng đa tình lãng tử?


Em hỏi gì

Không gỏi lòng em thử,

Em hỏi gì

Không thử tự hỏi em.

Những đêm khuya,

Có xõa tóc bên rèm?

Có thương nhớ,

Cánh bằng ngàn dặm gió?

-của Nhất Lang-


------------

Những bài trên họa theo lối hồn ai nấy giữ, nên rất khó mà họa cho hay, cho khéo!


- Họa đối ý - họa đối ý là cách họa nghịch lại, hay đối lại ý của bài đề, loại này tùy theo cách thức thích hợp, hoặc theo vần, hoặc không!


- Họa thể hình - một cách thức họa theo hình thể hay dạng của bài thơ đề, không nhất thiết phải theo vần suốt, nhưng phải dùng vần cuối bài đề để chuyển tiếp vận cho bài thơ họa.

ANH CÓ BIẾT (của LaLan)


Anh có biết chờ anh bao mùa hạ

Nước mưa đong đã thành biển mất rồi

Anh đi mãi không về nơi hò hẹn

Để mình em vô vọng ngắm nhìn trời


Bài thơ tình héo như cánh phượng rơi

Sân trường cũ con ve buồn lột xác

Cái của lớp mà anh thường liếc mắt

Giờ không anh bao lớp bụi nhạt nhoà


Hè nay về em lặng lẽ nhặt hoa

Gom góp lại cho mình vài kỷ niệm

Và bất chợt mưa về như nuối tiếc

Hứng mưa trời... nỗi nhớ vẫn còn đong...

*Bài thơ trên được làm theo thể phối hợp của cách vận bằng, và tự do.


(bài họa của Nhất Lang)

Anh cũng đã mấy mùa đông hoài vọng,

Ngóng về quê thương nhớ tuổi học trò.

Những hẹn hò... sân trường... hàng phượng vỹ,

Cả dáng hình kiều mỹ lẫn ngây ngô.


Bài thơ tình "Cánh Phượng Tặng Tiên Cô",

Anh vẫn giữ bên hành trang kỷ niệm.

Đôi mắt xưa với nụ cười tủm tỉm,

Vẫn mang theo, năm tháng chẳng nhạt nhòa.


Hè lại về, tuy người ở phương xa,

Hồn thơ cũng bay về trong gió thoảng.

Cài tóc em yêu một nhành hoa phượng,

Như thuở nào đã cài tóc tiên cô!

* Bài trên làm theo lối họa thể hình, chỉ cần chuyển vận ở câu đầu, và sau đó thả hồn theo nhịp điệu, không quan trọng đến vần.


- Họa chuyển vận - nghĩa là dùng vần cuối của bài thơ đề, chuyển vần ấy vào câu thơ đầu của mình và tùy theo THUẬN hay NGHỊCH ý mà họa. Loại hoạ đáp này rất là thông dụng hiện nay, chỉ cần biết CHUYỂN VẦN, còn thể loại thơ thì không quan trọng.

------------

Thí dụ:

LẠC BƯỚC VƯỜN THƠ (của VongHoaiNhan)


Vọng Hoài Nhân mãi mơ màng,

Vô tình lạc bước Thiên Đàng gia thơ.

Nhìn trời, ngắm cảnh... không ngờ,

Giữa trần gian có một vườn thơ tiên.

Không đâu có những muộn phiền,

Hoài Nhân quên hết triền miên nỗi sầu.

Mai Quế Lộ sẵn một bầu,

Nghiêng đầu dốc rượu, xin chào Thơ Gia.

(Nhất Lang họa đáp, dùng vần cuối chuyển tiếp - vần thông của âm a)

Không thiên đàng, chẳng phải mơ,

Huynh đang đứng giữa vườn thơ dương trần.

Không xa lắm, chẳng mấy gần,

Huynh đang lạc chốn cung Tần cõi mơ.

Thế gian lắm chuyện không ngờ,

Hai ta chẳng hẹn mà chờ nơi đây.

Quỳnh Mai tưởu một chum đầy,

Ngiêng mình đáp lễ Vọng Hoài Nhân huynh!

* Hai câu chót đáp lại vừa theo ý vừa theo nghệ thuật. Bài thơ họa bị PHẠM một lỗi là dùng ĐIỆP VẬN - điệp vận là sự trùng vần của hai đoạn thơ không cách nhau mấy vế. Tuy nhiên, trong thơ họa đáp, đôi khi khó mà tránh khỏi!


Trích cuối đoạn CHUYỆN ĐÓA QUỲNH MAI (của LaLan & Nhất Lang))

Ba lần dang dỡ dòng thơ,

Chắc vì duyên tận nên mơ chẳng tròn.

Trăng ngà đã khuất triền non,

Rượu Quỳnh cũng cạn, chỉ còn chút hương.

Ngắt cành mai đọng hơi sương,

Cài lên mái tóc, dặm đường nhớ nhau.

Chia ly nghe dạ dàu dàu,

Vòng tay tiễn biệt ngày sau vẫn nồng.

Không duyên chẳng vẹn tơ hồng,

Lời thơ ngày cũ sang sông theo người.

Mai này cách biệt phương trời,

Nhìn mai nhớ cảnh bồi hồi đêm nay.

Nam Kha tỉnh giấc còn say,

Mộng đi còn lại tóc mây bên thềm.

-LaLan-


Mưa rơi lã chã trong đêm,

Khóc tình dang dỡ, khóc duyên không tròn.

Trăng đêm đã rụng sườn non,

Quỳnh tương tuy cạn, nhưng còn chất hương.

Anh về gói kỷ vào rương,

Cùng một mớ tóc... vấng vương đêm ngày.


Tim sẽ khắc đêm này trọn kiếp,

Dẫu cho tình chẳng hiệp keo sơn.

Với tay vuốt mái tóc vờn,

Trong anh nấc nghẹn nỗi hờn thiên cung.


Đàn đã lỡ, dây chùng phím lạc,

Hai nẻo đời trôi dạt từ đây.

Nam Kha tỉnh giấc còn say,

Mộng tan theo gió, Quỳnh Mai rã rời!

-Nhất Lang-

------------

Thông thường thơ họa rất quan trọng về cách gieo vần, lắm khi người hoạ gặp phải loại vần mà người ta gọi là TỬ VẬN, nghĩa là vần chết, vần không có lối thoát, vần khó tìm ra chữ thay thế. Khi muốn học thơ, ta nên tránh dùng những từ ngữ hóc búa, những từ độc nhất, không có cách họa đáp!

* Khi họa đáp thơ, nếu ta dùng sự phối hợp của nhiều thể thơ thì sự uyển chuyển về vần điệu sẽ rộng rãi hơn. Các anh chị, các bạn và các em chỉ cần đọc kỷ về cách gieo vần trong bài đầu, và cách xử dụng vần của các thể loại, khi am hiểu sẽ biết cách ap dụng. Nhất Lang sẽ tìm ít bài thí dụ về cách họa này cho các bạn tham khảo sau.

- CHUYỂN VẬN từ một bài thơ cùng thể loại rất đơn giản, cứ theo vần cuối cùng của câu thơ cuối của bài đề, hay bài ta họa theo, mà tiếp vận theo thể thức của loại thơ ấy mà thôi!

- CHUYỂN VẬN từ một bài thơ khác thể loại, ta cần xác định hai điều là vần cuối của câu cuối của bài đề, hay bài thơ ta họa theo, là bằng hay trắc, và thể loại thơ mình muốn dùng là gì, mà theo vần luật của nó!

- Nếu tiếng cuối của bài đề, hay bài ta họa theo là bằng, và tiếng cuối của câu đầu tiên trong bài mình cũng là bằng, thì ta dùng tiếng ấy mà lấy vần cho tiếng cuối trong câu thơ đầu của bài họa!

- Nếu tiếng cuối của bài đề, hay bài ta họa theo là trắc, và tiếng cuối của câu đầu tiên trong bài mình cũng là trắc, thì ta cũng theo cách thức trên mà tạo vần trắc mới!

- Nếu tiếng cuối của bài thơ đề, hay bài ta họa theo là bằng, mà ta lại muốn dùng trắc ở cuối câu đầu thì ta theo phương thức sau: dùng chữ bằng ở cuối bài thơ trên mà tạo vần bằng cho tiếng thứ 3 (từ cuối câu đếm ngược lại), hoặc tiếng thứ 3 (từ trước đếm tới).

Như sau:

Vấn vương thốt tiếng từ ly... nghẹn lời. (câu cuối của bài trên)

Đường khuya mưa rơi tầm tã, (câu đầu của bài họa theo) - chữ RƠI nằm vào vị trí thứ 3 từ cuối câu đếm ngược lại!

- Nếu tiếng cuối của bài thơ đề, hay bài ta họa theo là trắc, mà ta lại muốn dùng bằng ở cuối câu đầu, thì ta cũng dùng cách tạo vần trắc cho chữ cuối của bài trên cùng chữ thứ 3 (từ cuối câu đếm ngược, hay từ đầu câu đếm tới như cách thức trên).

Thông tin
Người gửi Hải Nam gửi lúc 31/03/05 16:06   (cập nhật none)
Tác giả Nhất Lang
Nguồn  
Đánh giá
Đã xem 10814, có tất cả 5 bình luận
Bình luận về bài viết
tien94 viết lúc 10/01/06 14:49

VERY GOOD,PERFECT

damthithutrang viết lúc 03/02/06 19:00

thank you

you are very wonderful

lvc viết lúc 26/08/07 20:37

bai nay qua la cong phu .HAY TUYET !

aocaxaquakhongca viết lúc 23/05/08 16:11

wow, tuyệt vời!.......

hoangthily viết lúc 10/05/09 08:00

cac ban co biet hong van tho la mot cai gi do lai lang no co luc chim noi roi lai xuong vay the nguoi cung khong hjieu noi


Đọc tất cả 5 bình luận | Gửi bình luận của bạn