Chủ đề: Bách khoa trẻ em Bảng đề mục

Bé ơi! Thế giới loài vật

1. Bé ơi bé: con Kiến

Em thường thấy trên vỉa hè, ngoài vườn, những con kiến bò hàng dài, hoặc xúm lại tha mồi, hay dọn tổ từ nơi này đến nơi khác, mang theo cả trứng lẫn thức ăn. Giống kiến sống thành đoàn thể. Mỗi tổ kiến gồm có hai ba chục kiến cái gọi là kiến chúa, vài trăm kiến đực và hàng vạn kiến thợ. Kiến chúa và kiến đực có cánh và lớn hơn kiến thợ.

Thân kiến gồm có ba phần: đầu, ức và bụng. Đầu có hai râu, hai mắt và miệng. Khi kiến cắn ta, miệng nó nhả ra một chất độc làm đau nhức. Kiến chúa và kiến đực ở luôn trong tổ, chỉ có kiến thợ ra ngoài kiếm thức ăn. Có thứ kiến biết nuôi rệp cây để hút chất bổ trong cơ thể của rệp cây như người ta nuôi bò lấy sữa vậy. Kiến chúa sau khi đẻ trứng thì rụng cánh, không mọc nữa. Kiến thợ mang những trứng đó để vào các ngăn trong hang. Trứng nở thành sâu, sâu thay vỏ biến ra ấu trùng, ấu trùng thành con kiến.

Có nhiều giống kiến khác nhau. Kiến hay bâu vào thức ăn của ta, có khi đốt ta nữa. Các em nhớ tránh các ổ kiến vì kiến cắn đau lắm.

Bé ơi, Kiến tha lâu đầy tổ

Các em có bao giờ nhìn thấy con kiến chưa? Mùa nắng ra vườn, các em có thể nhìn thấy kiến, chúng bò nối nhau từng đường dài.

Nhưng cũng có khi các em nhìn thấy những chú kiến bò riêng rẻ, đó là các chú kiến đi tìm mồi. Khi tìm ra một miếng mồi lớn, một mình kiến không tha nổi, thì rất nhanh chóng kiến chạy về tổ và lập tức cả đàn kiến theo nó, đến hùa nhau đem mồi về.

Bằng cách nào kiến có thể thông báo nhanh chóng tin tức vậy? Phải chăng loài kiến có một ngôn ngữ riêng? Kiến thông tin với nhau bằng râu của chúng, các em cứ để ý xem thì biết, khi kiến chạy nhanh về tổ kêu bạn, giữa đường nếu gặp một con kiến khác, tức thì hai con chạm râu vào nhau và lập tức cả hai con cùng chạy đi ngay. Khi tới tổ thì những con kiến khác cứ lần lượt chạm râu vào nhau và lên đường tức khắc. Việc chạm râu chỉ báo cho đồng loại biết là có mồi, chứ không báo được hướng đi đến cũng như địa điểm có mồi.

Trong đàn kiến thường có những con kiến có khứu giác phát triển rất hoàn thiện, nó biết được mùi vị của con mồi do con kiến đầu tiên đã để lại trên đường đi từ chỗ con mồi quay về tổ, cũng như mùi vị riêng của những con kiến cùng tổ tiết ra, vì thế nó có thể dẫn cả đàn đi đến nơi có mồi. Ngoài ra, trong đàn, có những con kiến chạy rất nhanh và nhìn rất tinh, chính nhờ có những con kiến này mà cả đàn có thể đi đúng hướng. Các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về kiến còn nhận thấy rằng, khi kiến gặp nhau, râu của chúng còn có một phương thức giao tiếp phức tạp khác, cách va chạm râu khác nhau, và đó chính là ngôn ngữ riêng của kiến.

Các em thấy không, con kiến nhỏ chưa bằng đầu cây tăm, mà cả đàn kiến thì làm nên một sức mạnh phi thường, chúng có thể lần lượt rỉa rói thịt cả một con bò mộng tha về tổ.

2. Tìm hiểu: Ốc sên

Trong vườn, thường có những con ốc nhỏ bám ở dưới gốc cây, dưới lá. Đó là ốc sên. Ốc sên ở trên cạn, có vỏ bằng chất vôi. Lúc thường nó thu hình trong vỏ. Khi đi kiếm ăn, nó thò cả đầu và chân ra ngoài. Đầu có bốn râu: hai cái dài có mắt để nhìn, hai cái ngắn để sờ. Miệng có một hàm răng sắc và một cái lưỡi ráp để nghiền lá cây.

Mình ốc sên mềm, chân liền với bụng là một bắp thịt rộng có chất nhớt. Nó bò đến đâu, để lại một vết nhờn trắng ở đó. Ốc sên thở bằng phổi và ăn mầm lá cây.

Mùa hè, ốc sên đào hang đẻ chừng tám đến mười trứng. Hai mươi ngày sau, trứng nở ra ốc sên con với cái vỏ mỏng teo. Ốc sên lớn dần và vỏ rắn lại.

Ốc sên phá hại cây cối trong vườn. Người ta thường đem nó cho gà vịt ăn, hoặc dùng tro và vôi rắc vào gốc cây để cho ốc sên khỏi bò lên cây.

Ngoài ốc sên ra còn có nhiều thứ ốc ở dưới nước như ốc gạo, ốc vặn, ốc bươu, thịt ăn rất ngon và ốc xà cừ ở biển cho ta vỏ để cẩn đồ, màu lóng lánh rất đẹp.

(VB thiếu nhi)

3. Bé ơi bé: con Ong

Mùa Xuân, các em thường thấy những con ong bay từ vườn này sang vườn khác. Đó là ong đi hút mật hoa.

Ong sống thành đoàn thể từ 20.000 ngàn con tới 40.000 ngàn con. Trong một tổ, có con ong cái gọi là ong chúa, mấy trăm ong đực và hàng chục ngàn ong thợ. Thân ong có ba phần: Đầu, ức và bụng. Dầu có hai râu, hai mắt và miệng. Ức mang đôi cánh và ba đôi chân. Ong đực có ức, bụng và cánh to hơn ong thợ. Ong thợ có ngòi châm nọc ở bụng. Mỗi khi đốt, lỡ làm đứt nọc thì ong chết ngay.

Ong chúa chuyên việc sinh sản để duy tri nòi giống. Ong thợ thì đi hút phấn hoa, làm mật và tạo ra sáp để xây tổ.

Tổ ong có nhiều ô bằng sáp, hình lục lăng. Ong chúa đẻ vào mỗi ô một trứng, trừ những ô đã có ong ở hay chứa mật. Ong thợ đem mật và phấn hoa vào những ổ có trứng để khi trứng nở sâu, sâu con sẽ có cái ăn, rồi lấy sáp gắn lỗ lại để cho ong con biến hình.

Ong là giống côn trùng có ích nhất. Nó cung cấp cho ta mật và sáp ong. Các em nên tránh xa những tổ ong, vì bị nọc ong chích, còn đau và bị nhiễm độc hơn kiến cắn nhiều.

4. Bé ơi bé! Con Ếch

Nếu các em có dịp lại gần một cái ao vào mùa xuân, các em sẽ nghe tiếng kêu "ộp, ộp, ộp". Đó là tiếng kêu của con ếch, tiếng kêu của nó có thể vang xa tới cả cây số. Ếch có cặp mắt lồi, miệng rộng, chân dài ngón có màng bọc, da nhờn, mỏng và trơn. Lúc ở dưới nước, ếch thở bằng mang, khi vùi mình xuống bùn, ếch thở bằng da. Khi lớn lên, ếch thở bằng phổi.

Ếch cái đẻ trứng từng chùm dính vào nhau bằng chất nhờn, lềnh bềnh trong ao. Tuần sau trứng nở ra nòng nọc chưa có mắt và chỉ có một miệng hút nhỏ, trên đầu có một cái mang để thở. Khi nòng nọc biết vẫy đuôi và bơi giỏi rồi, miệng hút biến mất. Sau hai tháng nòng nọc lớn, phía sau mắt có một khe hở nhỏ, trong khe là mang để thở như cá.

Qua tháng thứ ba, mọc chân, thay mang. Khi miệng hút thay đổi, nó không ăn được, phải sống bằng đồ ăn tích trữ ở đuôi. Sau đuôi nòng nọc ngắn dần và biến mất, chân nòng nọc dài ra và biến thành ếch.

Họ hàng với ếch có nhái, chẫu chàng, con hỏa xà.

Thịt ếch ăn rất ngon. Em hỏi má có làm món "ếch chiên bơ" cho ba"nhậu" không?

5. Con Cóc là cậu ông trời

Tuần trước mình nói chuyện con Ếch rồi. Cóc vơí ếch tuy hình thể mới nhìn giốn nhau, nhưng khác nhau nhiều điểm.

Ếch thân thon dài, cóc mình bầu và ngắn. Da ếch mỏng, ướt và nhẵn, da cóc dày, khô và xù xì, có tuyến tiết nhựa độc. Ếch mắt nhỏ hơn cóc. Ếch có răng, cóc không có răng. Ếch nhảy lẹ còn cóc nhảy chậm, vụng về vì chân ngắn.

Có một vài giống cóc ở dưới nước, nhưng đa số ở trên cạn, trong vườn, ngoài đồng, nơi lạnh lẽo ẩm thấp, dưới đất hoặc trong hang, chân có móng để đào lối đi.

Cũng như ếch, cóc ăn thịt lẫn nhau lúc chúng còn là nòng nọc. Cóc ăn sâu bọ, giúp ích cho nhà nông. Ban ngày cóc ở trong hang, tối mới ra kiếm ăn. Tuy nhiên, nếu ban ngày trời mưa, cóc thường nhảy ra ngoài tắm nước. Cho nên người ta thường nói, khi cóc kêu ọp ọp là trời sắp mưa. Trong nhân gian có câu để ca tụng cóc: Con cóc là cậu ông Trời. Vì thịt cóc có chất độc nên không ai ăn thịt cóc.

6. Bé ơi! Coi chừng con Muỗi

Ban đêm ngồi học, em thường nghe tiếng muỗi vo ve bên tai, hay bị muỗi đốt ở chân, ở tay, đau quá chừng luôn.

Muỗi là một giống côn trùng nhỏ, thường hoạt động về ban đêm. Đầu muỗi rất nhỏ, có hai râu và một cái vòi thẳng dùng để chích và hút. Ức mang một đôi cánh hẹp, dài và ba đôi chân nhỏ như sợi tóc. Bụng muỗi dài, có bảy đốt lốm đốm đen. Muỗi ưa sống nơi tối, ẩm thấp. Muỗi cái đốt xcác loài vật và người để hút máu, còn muỗi đực thích hút mật hoa và trái chín.

Muỗi đẻ trứng ở nơi nước đọng từng chùm từ 50 đến 200 trăm trứng. Trứng nở ra cung quăng, cung quăng hóa ra ấu trùng, thỉnh thoảng nó phải ngoi lên mặt nước để thở. Sau cùng ấu trùng biến thành muỗi, bay khỏi mặt nước để kiếm ăn.

Khi muỗi đốt người thì vòi tiết ra một thứ nước có tính chất làm cho máu khỏi đông lại. Khi nó rút vòi ra, nước đó ngấm vào da thịt làm cho ta ngứa hoặc nổi nụm lên.

Ở miền nhiệt đới có giống muỗi a-nô-phen rất nguy hại, hút máu và truyền bệnh sốt rét cho người.

7. Bé ơi! Bướm đẹp quá kìa

Có con sâu róm đang ăn lá trong vườn. Nó xấu xí ghê bẩn quá phải không? Vậy mà, chỉ trong ít lâu, nó sẽ hóa thành một con vật rất đẹp, đó là con bướm.

Con bướm cải, đầu có hai mắt, hai râu để ngửi và sờ, một cái vòi dài cuốn mở được, dùng để hút mật hoa.

Ức bướm đễ mang đôi cánh trắng lốm đốm đen ở trên và màu vàng ở dưới. Cánh có nhiều vảy nhỏ như hạt phấn, những vảy này khơng ngấm nước. Khi bướm đậu, hai cánh xếp dựng đứng lên như một chiếc lá. Bướm có ba đôi chân nhỏ và dài, dùng để đ? Bụng bướm màu đen, có nhiều đốt, những đốt sau cùng dùng để chứa trứng. Khoảng 15 ngày trứng nở ra sâu. Sâu ăn lá cải hoặc các thứ rau. Sau ba tuần, sâu ngưng hoạt động, bám vào chỗ khuất đổi da bốn lần rồi hóa thành con nhộng màu vàng xám, ốm đốm đen. Một tháng sau, nhộng thành bướm bay ra.

Bướm không làm hại nhưng sâu của bướm ăn hại cây cối, tàn phá mùa màng. Co nhiều thứ bướm cánh trắng, có thứ cánh vàng. Có thứ bướm màu cánh nhung đen, viền những đường vàng và có những điểm tròn xanh biếc rất đẹp.

Bé ơi, cánh Bướm muôn màu

Các bạn ơi, màu sắc của cánh bướm đẹp quá. Cánh bướm khá lớn, màu sắc sặc sỡ, vào những ngày gió nhẹ và ấm áp, hầu như trong các vườn hoa đâu đâu cũng có bướm bay lượn, như những bông hoa biết bay. Nếu các bạn dùng tay bắt bướm, lỡ một ngón tay chạm vào cánh, tay bạn sẽ dính đầy một lớp phấn, và chỗ cánh bướm bị ngón tay chạm vào sẽ không còn màu sắc nữa, mà trở thành một màn mỏng trong suốt. Lớp bụi phấn trên cánh bướm là những lớp vẩy nhỏ, là những tế bào riêng biệt, hạt to hạt nhỏ, hạt ngắn hạt dài, tất cả các hạt đó đều mỏng và hẹp. Hai lớp của cánh bướm có nhiều màu sắc khác nhau, các màu sắc đó sắp xếp thành những hình hoa văn hay các màu sắc của cánh bướm do hai màu hợp thành: màu sắc tố và màu cấu tạo. Màu sắc tố gọi là màu hóa học, còn màu được tạo bởi thành phần hóa học của các hạt sắc tố trên cánh bướm và bị ảnh hưởng bởi các tác nhân hóa học khi ta phơi cánh bướm dưới trời nắng to.

Dưới tác dụng khác nhau của nguồn sáng cũng như góc độ chiếu sáng, sẽ hình thành các màu sắc vật lý khác nhau, ví dụ: cũng một cánh bướm, nhưng dưới ánh đèn ta thấy có màu xanh lam, còn khi dưới ánh nắng mặt trời lại lại có màu xanh tím óng ánh.

Do yếu tố trên mà có khi các bạn thấy cánh bướm màu tím, nhưng lát sau lại thấy cánh bướm màu vàng, nhìn nghiêng, thấy màu tím nhũ. Khi bướm bay lượn thì cánh bướm thay đổi màu sắc trông rất đẹp mắt.

8. Bé ơi, Châu chấu

Con châu chấu thân dài, màu xanh lá cây. Đầu châu chấu có hai râu dài luôn luôn ngoe nguẩy, hai mắt lớn và miệng có ngàm để nghiền thức ăn. Ức có hai đôi cánh:đôi cánh ngoài cứng và dài, đôi cánh trong màu đỏ, xếp như nếp quạt. Chân có ba đôi. Đôi chân sau dài, to và khỏe, dùng để nhảy. Bụng dài, mềm, có nhiều đốt. Đốt cuối cùng có cái ngòi nhọn dùng đào đất làm tổ đẻ trứng. Khi gặp địch thủ, châu chấu thường nhả ra một chất nước đen đen và hôi để tự vệ.

Châu chấu ăn lá cỏ, lá cây. Cuối mùa hè đẻ trứng. Đến mùa xuân năm sau, trứng nở ngay ra châu chấu non không có cánh, rồi thay đổi da tới năm lần, mọc cánh, trở thành châu chấu.

Cào cào cũng thuộc loài châu chấu, râu ngắn hơn. Cào cào bay từng đàn đen nghịt, ưa cắn hại mùa màng.

Có dịp ra ruộng lúa, các em sẽ thấy những con châu chấu nhảy tanh-tách rất xa và biến mất trong bụi cây, đám cỏ.

9. Bé ơi, con hến

Hến thường sống từng đàn ở ven sông, ven biển. Ở ruộng cũng có hến, thứ nhỏ hơn, người ta gọi là hến đồng.

Hến mình mềm, dấu kín trong hai mảnh vỏ cong và dầy bằng chất vôi màu xanh đen cóthể mở ra khép vào được nhờ khớp gân ở lưng. Vỏ được lót bằng một lớp bỉ rồi mới tới thân hến. Giữa bì và thân là hai cái go để thở. Miệng có bốn râu hình lá để lùa thức ăn. Chân hến là một bắp thịt có thể thò ra thụt vào qua miệng vỏ, dùng để bò, hến có những sợinhỏ như tơ dùng để bám vào hốc đá.

Hến đẻ trứng thật nhiều, trứng nở ngay trong bụng mẹ. Ra khỏi bụng mẹ, hến con tự ki᭠ăn và tụ thành đàn chung quanh hốc đá, chỗ nước yên và không sâu lắm.

Cùng giống hến có trai và sò. Thịt hến ăn rất ngon. Ở miền nhiệt đới có giống trai khi có một hạt cát lọt vào cơ thể thì lâu ngày hạt cát đó trở thành ngọc trai rất quí.

10. Bé ơi, con Cá!

Trung thu vừa rồi, mẹ mua cho em lồng đèn con cá chép bằng giấy.

Còn con cá chép ở dưới nước thì sao. Nó vầy nè:

Cá chép hình thoi khiến cá rẽ nước dễ dàng để bơi, da nó phủ lớp vảy lóng lánh xếp lên nhau như ngói lợp nhà. Đầu có hai mắt tròn và to, không có mí mắt, mõm nhọn có môi.

Cá chép có hai vây ở cạnh đầu và hai vây ở bụng thay cho tứ chi. Nó còn một vây trên lưng, một vây dưới bụng và một vây ở đưới nữa. Nó dùng vây để bơi và đuôi để lái.

Cá chép có xương sống ở lưng và nhiều xương nhỏ. Dạ dày bé, ruột ngắn, gan mật to. Trong bụng có bong bóng chứa không khí để giúp cá giữ vị trí thăng bằng trong nước và tùy ý lặn sâu hay nổi lên gần mặt nước. Cá cái đẻ trứng, mỗi buồng trứng có hàng chục vạn trứng nhỏ.

Cá thở bằng go. Cá há miệng cho nước vào vàkhi nó ngậm miệng, nước bị đẩy ra ngoài qua go. Cá ăn tôm tép, cung quăng, sâu bọ và hạt ngũ cốc. Có hai thứ cá: cá nước ngọt ở sông như cá chép, cá mè, cá trê, cá gíc và cá nước mặn như cá thu, cá chim, cá bơn, cá đuối v.v... Cá dùng để ăn và làm nước mắm.

11. Bé ơi: con thằn lằn

Thằn lằn thuộc giống bò sát, có bốn chân thò ra ở hai bên thân mình, mỗi chân có năm ngón, có vuốt nhọn để bám vào tường. Đầu có mõm nhọn, hai mắt nhỏ, sáng, mũi nhỏ, màng nhĩ tai ở sau mắt, da thằn lằn có vảy giả. Thức ăn của thằn lằn là sâu bọ, giun, ốc sên.

Thạch sùng nhỏ hơn thằn lằn, da xám nhạt, thường thấy bám ở tường hoặc trần nhà. Nó rình bắt sâu bọ, nhất là ban đêm. Chân có nhiều miệng hút rất nhỏ để bám chặt vào trần nhà.

Tắc kè thân to hơn thằn lằn, nhưng mình ngắn hơn. Tắc kè thừơng ở gốc cây. Thịt nó ăn ngon, da có thể dùng làm thuốc.

Kỳ nhông thường ở trên cây, da mầu xanh nhưng có thể biến đổi thành nhiều màu khác trong vài phút khi bị kích thích hay tùy theo ánh sáng và thời tiết.

12. Bé ơi, con Rắn!

Rắn là giống bò sát, thân dài và tròn, da có vẩy giả. Rắn không có chân, muốn di chuyển, nó chỉ vặn mình trượt đi. Có nhiều loại rắn to nhỏ và tên gọi khác nhau, nhưng người ta thường chia rắn ra làm hai loại chính: rắn độc và rắn không độc. Mỗi năm rắn có thể đổi da nhiều lần, gọi là: rắn lột.

Cần biết một vài loại rắn độc như rắn lục, màu da nó sắc xanh lục, đầu hình tam giác, đuôi mập và ngắn, miệng có nhiều răng nhỏ, hàm trên có hai móc thông với tuyến nọc độc. Rắn hổ mang cũng gọi là rắn mắt kính vì ở mỗi bên đầu nó có một khoanh tròn như mắt kính. Nọc nó rất độc. Rắn rung chuông đầu cũng hình tam giác, đuôi có những khoanh vẩy rất lớn. Khi nó di chuyển, những vẩy này rung lên kêu như chuông. Mỗi lần nó đổi da là đuôi thêm một khoanh vẩy. Kế là rắn cạp nong, thân nhiều khoanh sắc đỏ, vàng, đen tựa những khoanh lạt buộc cạp nong vậy. Rắn này tuy nhỏ mà nọc rất độc.

Ngoài ra còn có con trăn, tuy không có nọc độc nhưng to lớn dị thường, có sức mạnh cuộn người xiết chặt làm gãy xương và chết ngộp.

Rắn không độc cũng có nhiều loại như rắn nước, rắn hoa cỏ v.v...

13. Bé ơi, con Chim

Chim là vật mình có lông vũ, có hai cánh để bay, hai chân để đi đứng, mỏ cứng để mổ thức ăn. Chim làm tổ trên cây, đẻ trứng, trứng nở ra chim con.

Các em hãy quan sát con chim bồ câu, cánh và đuôi có lông dài, lông mình ngắn, xếp chồng lên nhau như ngói lợp nhà,ở sát mình lông tơ mềm. Nó có thể bay nhanh một thôi dài hàng trăm cây số nhờ những đặc điểm thân thon dài, xương rỗng chứa đầy không khí, lông nhiều mà nhẹ, cánh xòe ra như cánh quạt được điều động bởi một bắp thịt rất chắc. Chim bồ câu ăn ngũ cốc, ở chuồng. Các giống chim khác làm tổ trên cây để ở. Có giống làm tổ trong hang hốc, có giống làm tổ bằng đất bùn. Những chim biết hót thường nhỏ thó và làm tổ rất đẹp như họa mi, chích chòe, sáo...

Những chim ta thường nuôi trong nhà là bồ câu, gà, vịt. Những chim sống tự do ngoài trời ăn thịt sống như chim ưng, diều hâu. Giống ăn tôm tép như cò, vạc, bồ nông thường có chân dài, cổ cao.

Vì sao chim ngủ trên cành không bị rơi xuống

Chim thường ngủ trên những cành cây cao, nhưng không khi nào bị rơi xuống đất. Các bạn có biết là vì sao không?

Trước hết là do cấu tạo của chân chim rất thích hợp với việc bám chặt trên cành cây, mặt dưới của bàn chân có một lớp da dày và ráp, tạo ma sát tốt khi chân chim bám vào cành cây.

Nếu quan sát kỹ tư thế đậu của chim, các bạn sẽ thấy rằng: sau khi chim đậu xuống cành cây, chúng liền gập chân lại, ép sát cẳng chân vào đùi và đè xuống cành. Vì vậy toàn bộ trọng lượng cơ thể chim đuợc dồn xuống một điểm của cẳng chân. Trọng lượng của chim đè xuống cũng tăng thêm độ bám của màng da chân vào cành cây.

Mặt khác, loài chim có bộ ức rất phát triển không những thích ứng cho việc bay lượn, mà còn có tác dụng điều tiết sự vận động và giữ sự cân bằng của thân thể rất tốt. Nó bảo đảm cho cơ thể chim ở vị trí cân bằng, trọng tâm không bị lệch khỏi cành cây, nên chim ngủ trên cành mà không bị rơi xuống là vậy!

14. Bé ơi con Vịt kêu cạp cạp!

Ở những vùng đồng ruộng, người dân quê thường nuôi vịt. Khi đã gặt lúa rồi, người ta có thể lùa cho hàng đàn vịt ra ruộng mò tôm, cua, cá để ăn. Vịt có mỏ dẹt, chân thấp, ba ngón trước có màng nối liền nên nó bơi rất lẹ. Hai chân xa cách nhau nên vịt đi bộ lệt bệt và chậm chạp. Lông vịt có tiết ra chất dầu nên khi bơi lông không thấm nước.

Vịt thích ngụp lặn dưới ao. Trước khi lặn, muốn cho khỏi nổi lên, nó đẩy hết không khí ở mình và lông ra. Vịt có thể lặn lâu dưới nước chừng 60 hay 70 giây. Vịt đẻ trứng nhưng không ấp trứng, mà muốn có vịt con, nhà chăn nuôi vịt thường phải bỏ vào lò ấp. Vịt rất háu ăn và chóng lớn.

Vịt có nhiều giống, giống sống hoang dại gọi là vịt trời, sống ở ngoài mặt nước hoặc bờ ao, hồ. Thứ lông nâu gọi là vịt nâu. Có giống vịt hay bơi từng cặp cùng nhau ở ao sen, hồ lớn gọi là uyên ương. Còn có con ngan to hơn vịt, ngỗng to hơn ngan. Con thiên nga cũng là một loại ngỗng, thường ở hồ, hoăngười ta nuôi trong hồ nhà để làm cảnh.

Thịt vịt ăn rất ngon. Trứng vịt lớn hơn trứng gà, cũng thường dùng để đổ chả trứng.

Con vịt trong hồ lạnh

Các bạn biết không, con vịt có thể chịu lạnh rất giỏi. Mùa đông vịt vẫn bơi lội hoặc dầm mình dưới nước mà không bị lạnh như một số động vật khác. Lý do là vì nhiệt độ trong nước bao giờ cũng cao hơn nhiệt độ không khí, và khi bơi, vịt luôn luôn hoạt động. Thêm nữa, cấu tạo lớp lông vịt rất dày, ở các vùng lạnh, lông vịt giữ được nhiệt độ, mà nhiệt độ của vịt lại cao, khoảng 42 độ C, cao hơn nhiệt độ của thân người tới 5, hoặc 6 độ và vịt còn có khả năng điều khiển thân nhiệt.

Cơ thể vịt có cấu tạo đặc biệt để sống dưới nước quanh năm, xương của vịt nhẹ và xốp, có nhiều tuyến mỡ phân phối khắp nơi, lông dây, có nhiều lớp, không thấm nước.

Các bạn thấy con vịt chưa? Khi vịt từ dưới nước đi lên bờ thì chúng liên tục dùng mỏ chải lông, thỉnh hoảng lại dùng mỏ lấy chất nhờn từ "phao câu" để bôi lên khắp cơ thể. Chất nhờn này giống như một lớp dầu, giữ cho lông vịt không bị thấm nước.

15. Bé ơi! Gâu gâu con Chó sủa

Các em ơi, con chó không chỉ sủa thôi, mà còn cắn nữa.


Chó mình thon, lông dày, tai dỏng hay cúp, mõm dài. Có con lông màu vàng, có con lông màu trắng, hoặc đen, hoặc đốm, hay vằn vện, lông vá. Mắt chó rất tinh, đêm tối trời vẫn nhìn được. Tai nó thính lắm, khẽ động nhẹ là nó biết liền. Nó còn đánh hơi giỏi, hể hửi thấy hơi lạ là sủa ngay. Chó chạy nhanh và dai sức. Chân chó có vuốt nhọn, nhưng không thụt vào được nên cùn dần vì chạm đất. Hàm chó dài và khỏe. Răng cửa và răng nanh đều nhọn. Ngoài răng hàm để xé thịt, còn răng hàm cùn để gậm xương.

Chó là giống vật tinh khôn và dễ dạy. Biết mến chủ và có nghĩả. Có giống chó xù lông, có giống lông xoăn, có giống tai thõng, có giống tai vểnh. Có giống to như con bê, có giống nhỏ hơn cả con mèo.

Người ta nuôi chó để giữ nhà hoặc đi săn, dùng chó để chăn cừu, kéo xe trượt tuyết, cứu người chết đuối v.v...

Tương cận với chó có chó sói, chồn, cáo. Chó sói ở nơi hoang dã, thân cao lớn, tai vểnh, đuôi cúp. Chó sói rất hung dữ. Cáo và chồn lớn hơn mèo, đuôi xù, mõm nhọn, ở trong hang, ban đêm đi bắt gà vịt, các giống vật nhỏ để ăn. Chó cũng như mèo, đều là giống ăn thịt sống, đẻ con và cho con bú.

16. Meo meo con Mèo kêu

Các bạn có biết câu ca dao:

Con mèo mà trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Nhưng nếu chẳng may, có chú chuột ở nhà, tức thì chú chuột bị mèo vồ ăn thịt. Vì mèo là giống chuyên ăn thịt mà thích nhất là thịt chuột.

Mèo mình dài, bắp thịt rắn chắc, lông mềm mà mượt như tơ. Đầu mèo nhỏ và tròn, mõm ngắn. Hai bên mép có những sợi ria cứng và dài. Bộ ria rất nhạy cảm, giúp mèo đi lanh lẹ trong đêm tối. Mắt mèo tròn, rất tinh, con ngươi nó có thể thu nhỏ lại ban ngày, nhất là nhìn nắng chói, và ban đêm mở rộng ra, chiếu một ánh sáng xanh. Tai rất thính, mũi đánh hơi rất xa. Mèo có hai hàm răng rất khỏe: răng cửa nhỏ và răng nanh cong, nhọn, răng hàm sắc tựa lưỡi dao, dùng để xé thịt. Lưỡi mèo ráp, sắc, giúp nó dễ nhặt thức ăn ở dĩa và liếm bộ lông cho mượt. Chân mèo có những móng nhọn, cong, sắc, gọi là vuốt. Bình tyhuong, vuốt thu gọn dấu dưới chân, khi vồ hay cào mới giương ra.

Mèo bước êm và đi uyển chuyển. Khi cần nó nhảy rất cao và leo trèo giỏi. Mèo ăn thịt sống. Mèo nhà ăn thịt, ăn cá nhưng gặp chuột thì không tha. Mèo rừng săn các con mồi, chuột bọ, chim, cá và sâu bọ.

Mèo đẻ con và cho con bú bằng sữa mình, nên mèo được xếp vào loại có vú.

Một ngày, mắt mèo đổi 5 lần

Các em biết không, mắt của con mèo không những có hình dạng khác nhau vào ban ngày, buổi sáng và buổi chiều, mà ngay trong đêm mắt của nó cũng có lúc khác nhau. Ban ngày, mắt của mèo có ba lần thay đổi.

Nếu tìm hiểu, các em sẽ thấy cấu tạo nhãn cầu của mắt mèo rất lớn, mặt khác, cơ mắt của mèo có độ dàn hồi rất cao. Mắt người ta khi bị chói nắng, tuy con ngươi có thể khép nhỏ lại, nhưng chỉ co lại ở mức độ nhất định, nếu kéo dài, mắt sẽ rất khó chịu. Ngược lại, khi tập trung để nhìn trong đêm tối, cũng có cảm giác hoa mắt. Ở mèo, mắt có khả năng thích ứng rất tốt, khi bị chiếu sáng hay dưới ánh nắng gay gắt, con ngươi cóthể co lại rất nhỏ, hẹp đến mức như một sợi chỉ, còn trong bóng tối, con ngươi mèo lại có thể mở ra như một hình tròn. Chính nhờ khả năng có thể co giãn được của con ngươi mà mắt mèo có thể phản ứng rất nhậy đối với cường độ ánh sáng khác nhau, ứng vào buổi sáng, buổi trưa và tối, cường độ ánh sáng thay đổi, con ngươi của mắt mèo cũng thay đổi, giúp cho mèo lúc nào cũng nhìn rõ mọi vật.

17. Bé ơi, con Công hay múa

Con công hay múa

Nó múa làm sao

Nó rụt cổ vào

Nó xòe cánh ra

Đó là bài hát về con công. Các em có muốn biết tại sao công cứ thích xòe cánh ra không?

Tại vì, công biết xòe đuôi để múa, mà múa rất đẹp. Theo các nhà sinh vật học thì vào khoảng tháng 3, tháng tư là mùa mà công thích múa nhất, vì đó là khoảng thời gian công có quan hệ mật thiết với nhau. Múa là biểu hiệu sự tìm đến nhau kết bạn của loài công. Khi có những kích động bên ngoài, hoặc quá sợ hãi, công cũng xòe đuôi và xù lông để tự vệ, khác hẳn với hiện tượng xòe đuôi để múa.

Công cùng họ với các giống gà, chim trĩ, chim cút, gà gô, nhưng những giống này cũng có đuôi, có cánh, có những con gà mái lông màu trắng nuốt hay gà trống có lông nhiều màu và đuôi có những lông dài cánh cung, nhưng cũng chỉ xòe ra để dương oai chứ cũng không biết múa.

Các em muốn xem con công thì hãy tới vườn bách thú hay một vài công viên đặc biệt, công thường đi từng cặp với nhau gồm con trống và con mái. Các em sẽ thích thú vô cùng khi thấy con công xòe đuôi múa. Lúc đó đuôi công là cả một chiếc quạt lớn lấp lánh muôn màu sắc, rung rinh theo từng nhịp bước...

Em bé trong hình cũng xòe váy ra múa cùng với công, em chỉ mới tập múa thôi, chúc bé ráng luyện tập để múa đẹp như con công đang múa!

18. Bé ơi, chuyện con Ong Chúa

Các em biết không, loài hoa nào màu sắc càng rực rỡ thì càng hấp dẫn loài ong mật tới hút nhụy.

Nhưng nếu quan sát tỉ mỉ, các em sẽ thấy không phải loại hoa nào ong mật cũng tìm đến.

Ong cũng giống một số côn trùng khác, trên đầu nó có một đôi râu nhỏ, trên đỉnh của hai sợi râu này có một cơ quan vị giác đặc biệt, có thể phân biệt được mùi vị của hoa, còn phân biệt được các loài ong khác nữa, vì mỗi tổ ong đều có một mùi vị riêng. Ở phần dưới của bụng ong, có một bộ phận tiết ra mùi, tạo thành mùi thơm riêng biệt cho mỗi tổ ong. Khi ong đi hút mật hoặc lấy phấn hoa, mùi thơm của bản thân ong khuếch tán vào bông hoa, như vậy mỗi con ong bao giờ cũng biết nhanh chóng đổ xuống loại hoa mà bạn bè của nó đã đến lấy mật.

Mặt khác, ong còn có hai con mắt khá lớn, nó có thể phân biệt được màu sắc của từng bông hoa. Thị giác của ong thích hợp với các sóng ánh sáng ngắn, nên ong có thể phân biệt được các màu vàng, lam, tím v..v.... Tóm lại loài ong có thể bay đến loại hoa mà nó ưa thích vì râu của chúng có một cơ quan vị giác có thể phân biệt được mùi vị và mắt phân biệt được các màu sắc.

19. Những điều bí ẩn của loài gián

Con gián, eo ơi, dễ sợ quá. Có bạn nào không sợ con gián không?

Con vật này tồn tại trên trái đất khoảng một triệu năm lận kìa, và đã sống sót qua cả những thời kỳ khí hậu khắc nghiệt nhất trên trái đất, chống đõ dược với mọi thứ kẻ thù và tai họa của thiên nhiên.

Sỡ dĩ chúng có thể sống được như vậy vì gián ăn được tất cả mọi thứ mà nó gặp. Từ sơn, quần áo rách, xi đánh giày đến tóc, xà phòng, xơ bàn chải, vỏ trứng...và cả xác đồng loại nữa. Ngay cả khi không có cái gì ăn gián cũng có thể nhịn đói mà sống được tới 80 ngày.

Hai mắt gián là một bộ máy quang học tuyệt diệu, bởi vì mỗi con mắt gián có tới 1800 lăng kính và có khả năng nhìn qua bóng tối dày đặc. Gián cuũng có thể ép mình tài tình để lọt qua một khe hở rất hẹp, gián có thể sông dưới nước vài phút và chịu lạnh tới _ 5 độ C.

Gián lớn lên qua quá trình lột xác, cứ mỗi lần lột xác là lớn hơn một chút. Khoa học còn khám phá ra một điều rấ lý thú là gián có khả năng chịu được các tia phóng xạ hạt nhân.

Gián còn có một công dụng khá hay nữa là dọa nạt được các em thiếu nhi. Có bạn thiếu nhi nào không sợ con gián thì ghi tên cho biết nhé!

Thông tin
Người gửi Hải Nam gửi lúc 20/12/04 00:48   (cập nhật 29/12/04 00:30)
Tác giả Cô Ba Ký Cóp
Nguồn TTVNOL 
Đánh giá
Đã xem 12182, có tất cả 1 bình luận
Bình luận về bài viết
trancaotich_c2 viết lúc 15/05/07 11:27

     

Đọc tất cả 1 bình luận | Gửi bình luận của bạn